KHỞI NGHĨA BA ĐÌNH – 34 NGÀY ĐÊM GIỮ ĐẤT, GIỮ LÀNG
Tháng 7 năm 1885, kinh thành Huế thất thủ. Vua Hàm Nghi cùng các đại thần yêu nước phát động phong trào Cần Vương, kêu gọi nhân dân đứng lên chống thực dân Pháp, giành lại độc lập cho đất nước.
Hưởng ứng lời hiệu triệu ấy, tại vùng đất Nga Sơn, Thanh Hóa, những người yêu nước đã cùng nhau dựng nên một căn cứ kháng chiến đặc biệt. Đó là căn cứ Ba Đình, nơi ghi dấu cuộc chiến đấu kiên cường của những nghĩa sĩ cuối thế kỷ XIX.
Đứng đầu phong trào là Phạm Bành và Đinh Công Tráng, cùng nhiều thủ lĩnh nghĩa quân khác. Họ hiểu rằng muốn chống lại đội quân Pháp có vũ khí hiện đại, nghĩa quân không thể chỉ dựa vào lòng dũng cảm, mà còn phải biết tận dụng địa hình, xây dựng công sự và đoàn kết với nhân dân.
Căn cứ Ba Đình được xây dựng trên địa phận ba làng Mậu Thịnh, Thượng Thọ và Mỹ Khê. Từ ba ngôi đình của ba làng, người dân có thể nhìn thấy nhau, vì thế căn cứ mang tên Ba Đình.
Những ngày ấy, cả vùng quê trở nên nhộn nhịp. Người góp tre, người đào hào, người đắp lũy đất, người vận chuyển lương thực. Những lũy tre dày đặc, hào sâu và thành đất kiên cố dần hình thành. Bên trong căn cứ, nghĩa quân bố trí các đồn Thượng, đồn Trung và đồn Hạ, liên kết với nhau thành một hệ thống phòng thủ.
Không chỉ có người Kinh, nghĩa quân còn có sự tham gia của đồng bào Mường, Thái và nhiều người dân yêu nước. Tất cả cùng chung một ý chí: bảo vệ quê hương, không để quân xâm lược dễ dàng khuất phục.
Cuối năm 1886, quân Pháp quyết định mở cuộc tấn công lớn vào căn cứ Ba Đình. Những tiếng súng đầu tiên vang lên, báo hiệu một trận chiến vô cùng khốc liệt.
Ngày 18 tháng 12 năm 1886, quân Pháp tiến công căn cứ từ nhiều hướng. Nhưng phía sau những lũy tre tưởng chừng bình thường là một hệ thống phòng thủ được chuẩn bị kỹ lưỡng. Nghĩa quân kiên cường chống trả, tận dụng hào sâu, thành đất và những vị trí thuận lợi để ngăn bước tiến của đối phương.
Nhiều đợt tấn công bị đẩy lùi. Quân Pháp phải tăng cường lực lượng và sử dụng pháo binh để phá vỡ hệ thống phòng thủ.
Sang tháng 1 năm 1887, cuộc chiến càng trở nên dữ dội. Đại bác liên tục nã vào căn cứ, lửa cháy lan qua những lũy tre, khói bụi bao trùm các làng quê. Nghĩa quân chiến đấu trong tình thế ngày càng khó khăn. Lương thực, đạn dược cạn dần, thương vong tăng lên, trong khi vòng vây của quân Pháp ngày một siết chặt.
Dẫu vậy, Phạm Bành, Đinh Công Tráng và các thủ lĩnh vẫn cố gắng giữ vững tinh thần chiến đấu. Họ hiểu rằng mỗi ngày cầm cự là thêm một ngày thể hiện ý chí chống xâm lược của nhân dân.
Sau hơn một tháng chiến đấu quyết liệt, trước sức ép quá lớn của đối phương, các thủ lĩnh quyết định tổ chức phá vòng vây, đưa nghĩa quân rút khỏi căn cứ trong đêm 20 rạng ngày 21 tháng 1 năm 1887.
Căn cứ Ba Đình cuối cùng thất thủ, nhưng cuộc kháng chiến chưa dừng lại ngay tại đó. Một bộ phận nghĩa quân tiếp tục rút về căn cứ Mã Cao, tìm cách tập hợp lực lượng và duy trì hoạt động chống Pháp.
Đinh Công Tráng vẫn kiên trì con đường chiến đấu. Ông tiếp tục tìm cách gây dựng lực lượng, nhưng cuối cùng đã hy sinh trong cuộc chiến đấu tại Nghệ An vào năm 1887. Nhiều thủ lĩnh khác cũng chịu những kết cục đau thương sau khi căn cứ bị phá vỡ.
Cuộc khởi nghĩa Ba Đình thất bại, nhưng tinh thần của những người nghĩa sĩ vẫn còn mãi trong lịch sử dân tộc. Họ đã cho thấy sức mạnh của sự đoàn kết, lòng quả cảm và ý chí bảo vệ quê hương trước một đối thủ có ưu thế lớn về vũ khí.
Ngày nay, nhắc đến Ba Đình, chúng ta không chỉ nhớ đến tên gọi của một căn cứ kháng chiến ở Thanh Hóa, mà còn nhớ đến những người đã sẵn sàng hy sinh để giữ từng tấc đất quê hương.
Hơn một thế kỷ đã trôi qua, tiếng súng nơi căn cứ xưa đã lặng im, nhưng câu chuyện về Phạm Bành, Đinh Công Tráng và các nghĩa sĩ Ba Đình vẫn nhắc nhở thế hệ hôm nay về giá trị của độc lập, lòng yêu nước và trách nhiệm đối với non sông.
Ba Đình có thể thất thủ, nhưng tinh thần bất khuất của những người đứng lên vì đất nước thì không bao giờ bị khuất phục.



