Khúc hát mở đường
bà Lê Thị Thoa, người nữ chiến sĩ mở đường năm xưa. Giai điệu nhạc sĩ Xuân Giao vang khẽ trong tâm trí: “... Ơi biết bao cô gái đang ngày đêm mở đường. Hỏi em bao nhiêu tuổi mà sức em phi thường...”. Khúc hát quen thuộc với nhiều thế hệ nhưng khi đứng trước nhân chứng sống, tôi mới thấu hiểu sức nặng của hai chữ “phi thường”. Đó là sức chịu đựng bền bỉ của những cô gái tuổi đôi mươi, những người mở và giữ đường bằng chính thân mình.
Bà Thoa xuất hiện, xóa tan hình dung của tôi về một cựu binh tóc pha sương. Bà lựa lời rất chậm, khẽ khàng như đang độc thoại với kỷ niệm. Tháng 1/1971, Lê Thị Thoa đang là nữ sinh lớp 10, cái tuổi đẹp nhất với bao dự định. Thế nhưng, tiếng gọi tiền tuyến đã át đi tất thảy. 150 thanh niên Hoằng Hóa năm ấy cùng viết đơn tình nguyện lên đường.
Bà nhớ in buổi sáng chia tay, làng quê rợp cờ hoa nhưng cũng đẫm nước mắt của những người mẹ. Khi ấy, bà chỉ kịp nắm tay mẹ dặn: “Con đi rồi con sẽ về”. Bà không ngờ phía trước là Trường Sơn - nơi sự sống và cái chết đôi khi chỉ cách nhau bằng một tiếng rít máy bay phản lực.
Bà được biên chế vào Đại đội 10, Tiểu đoàn 77, Trung đoàn 6 thuộc Đoàn 559 lừng lẫy, làm nhiệm vụ mở đường tại khu vực Đường 9 - Nam Lào, sau đó chuyển sang tuyến 16C. Đây là những nhánh huyết mạch nối vào trục vận tải chiến lược đường Hồ Chí Minh. Những năm 1971-1972, tuyến Trường Sơn bị đánh phá ác liệt. Máy bay trinh sát địch lượn lờ suốt ngày đêm, kéo theo những đợt bom trút xuống, biến mặt đường thành hố sâu hun hút, rừng già thành bãi đất cháy sạm mùi lưu huỳnh.
Công việc của nữ công binh không chỉ là cầm súng, mà cùng đồng đội dùng cuốc, xẻng, xà beng phá đá mở đường giữa đại ngàn. Có đoạn vừa làm xong lúc chạng vạng, đêm đã bị bom dội nát. Không nản lòng, bà Thoa và đồng đội lại ra tuyến, bắt đầu lại từ con số không. Sự bền bỉ ấy giữ cho mạch máu giao thông Trường Sơn chưa bao giờ đứt đoạn.
Chiến tranh với nữ công binh còn là cuộc chiến âm thầm với “rừng thiêng, nước độc” và thiếu thốn đủ bề. Nhưng tất cả được nén lại vì mạch đường phía trước không được phép ngừng chảy. Ban đêm, cuộc chiến giành giật từng tấc đường trở nên nghẹt thở. Khi máy húc, máy ủi nổ máy, nhiệt lượng và tiếng động cơ trở thành “bia sống” thu hút máy bay địch.
Bà Thoa kể, ở Trường Sơn, người ta không nghe bom bằng tai mà cảm nhận bằng cả lồng ngực. Chỉ một tiếng rít xé màn đêm, bà lập tức đổ người xuống mặt đường. Lồng ngực ép chặt đất lạnh, đất đá nổ dội lên rồi đổ ập xuống lưng, sức ép bom bóp nghẹt nhịp thở giữa khói bom nồng nặc.
Năm 1973, sau trận oanh tạc trúng tọa độ đơn vị, bà Thoa bị thương nặng phải chuyển về tuyến sau điều trị. Hòa bình lập lại, bà rời chiến trường với di chứng tiếng bom và cái lạnh của rừng già. Trở về Thanh Hóa, bà công tác tại đơn vị kiến thiết đến khi nghỉ hưu năm 1992. Hiện nay, bà vẫn tích cực hoạt động trong Hội Cựu chiến binh và Hội Truyền thống Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh tỉnh Thanh Hóa. Với bà, mỗi buổi sinh hoạt là dịp gặp lại đồng đội, gọi tên nhau để biết tất cả vẫn còn giữa thời bình.
Ngày trở về, quân số tiểu đoàn vơi đi nhiều. Tôi nhớ rõ từng người, người nằm lại vì sốt rét ác tính, người hy sinh vì bom bi khi đường đang mở đường. Những cái tên dẫu phai mờ nhưng tọa độ họ nằm xuống vẫn hiện rõ trong ký ức tôi.



