Khúc tráng ca bất tử: Tạc vào non sông tượng đài người anh hùng Mai Thúc Lân
Ghi nhận những cống hiến to lớn cho Tổ quốc, tên tuổi Anh hùng Mai Thúc Lân mãi mãi trường tồn cùng non sông gấm vóc, là niềm tự hào vô bờ bến của quê hương Bắc Giang và nhân dân cả nước.

Ghi nhận những cống hiến to lớn cho Tổ quốc, tên tuổi Anh hùng Mai Thúc Lân mãi mãi trường tồn cùng non sông gấm vóc, là niềm tự hào vô bờ bến của quê hương Bắc Giang và nhân dân cả nước.
Vết son lịch sử và tấm gương kiên trung
Mai Thúc Lân (6 tháng 1 năm 1935 – 29 tháng 10 năm 2014) là một kỹ sư nông nghiệp kiêm chính trị gia người Việt Nam, từng đảm nhiệm nhiều chức vụ như Phó Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Ngân sách Quốc hội, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam – Đà Nẵng.
Mai Thúc Lân sinh ngày 6 tháng 1 năm 1935 trong một gia đình công chức tại làng Nông Sơn, xã Điện Phước, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Điện Bàn Tây, thành phố Đà Nẵng). Ông nội của ông là một nhà tú tài, người bác ruột của ông là Mai Dị, một cử nhân từng tham gia phong trào Duy Tân cùng với khởi nghĩa Thái Phiên và từng bị bỏ tù tại nhà tù Côn Đảo. Cha của ông từng là Chủ tịch Hiệp hội nông dân tỉnh Quảng Đà. Người anh đầu của ông là tiến sĩ Mai Thúc Luân, từng làm Tổng biên tập Báo Văn hóa. Người anh thứ hai là nhà báo Mai Thúc Long, từng là Phó Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam. Người em thứ nhất của ông là giáo sư, tiến sĩ, nhà văn Mai Quốc Liên, từng là Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Quốc học thuộc Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học – Nghệ thuật Việt Nam và được trao tặng hai Giải thưởng Nhà nước về hai lĩnh vực khác nhau là Khoa học công nghệ và Văn học nghệ thuật. Người em út của ông là Mai Thành Ban. Khi còn nhỏ, Mai Thúc Lân theo học lớp Nhì tại trường làng Phong Thử.
Mai Thúc Lân tham gia cách mạng từ tháng 8 năm 1948, bắt đầu với công việc liên lạc, đánh máy chữ tại cơ quan Huyện ủy Tam Kỳ. Năm 1953, ông tham gia Ban Chấp hành Đoàn thanh niên cứu quốc xã Tam Xuân, là Bí thư chi đoàn cứu quốc thôn. Sau khi hiệp định Genève được ký kết, tháng 2 năm 1955, Mai Thúc Lân tập kết ra miền Bắc và theo học Trường Trung cấp Nông lâm Trung ương. Tháng 9 năm 1959, ông gia nhập Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Từ năm 1957 đến tháng 10 năm 1961, ông trở thành cán bộ kỹ thuật của Ty Nông nghiệp tỉnh Bắc Giang, là Thường vụ Đoàn Thanh niên các cơ quan tỉnh; từ năm 1961 đến năm 1964, ông theo học Trường đại học Nông nghiệp I. Năm 1965, ông trở thành Trưởng Phòng Trồng trọt Ty Nông nghiệp Hà Bắc kiêm Thường vụ Đảng ủy cơ quan; từ năm 1971 đến năm 1974, ông học lý luận chính trị cao cấp tại Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc Trung ương.
Từ năm 1974 đến năm 1979, Mai Thúc Lân làm việc tại Ty Nông nghiệp tỉnh Hà Bắc và lần lượt đảm nhiệm các chức vụ Trưởng phòng; Phó Ty; Tỉnh ủy viên kiêm Trưởng Ty; Bí thư Đảng ủy cơ quan và Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Hà Bắc. Ông trở thành Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Bắc từ năm 1976 và đến năm 1977 thì trở thành ủy viên chính thức. Tháng 12 năm 1979, ông được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Bắc và đến năm 1980 thì được bầu vào Ban Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh. Sau khi Cộng hòa Nhân dân Campuchia được thành lập, từ năm 1982 đến năm 1983, Mai Thúc Lân trở thành Phó Trưởng đoàn chuyên gia tại tỉnh Battambang. Từ năm 1984 năm 1989, ông tiếp tục làm việc tại tỉnh Hà Bắc và lần lượt đảm nhiệm các chức vụ Thường vụ Tỉnh ủy kiêm Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh rồi Phó Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh. Trong thời gian này, ông cùng lãnh đạo tỉnh khắc phục thành công sự cố đê Nội Doi vào năm 1986.
Tháng 11 năm 1989, Mai Thúc Lân chuyển công tác về Quốc hội Việt Nam và đảm nhiệm chức vụ Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Ngân sách Quốc hội. Tại Quốc hội Việt Nam khóa IX năm 1992, ông được bầu vào Ủy ban Thường vụ Quốc hội và đảm nhiệm chức vụ Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Ngân sách Quốc hội. Tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII, Mai Thúc Lân được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ngày 15 tháng 3 năm 1994, ông được Bộ Chính trị điều động về công tác tại tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng và đảm nhiệm chức vụ Bí thư Tỉnh ủy thay Nguyễn Văn Chi được điều động ra trung ương. Đến ngày 25 tháng 3 thì có quyết định chính thức, Mai Thúc Lân, lúc này đang công tác tại Thành phố Hồ Chí Minh, liền về Hà Nội để nhận quyết định và vào Quảng Nam – Đà Nẵng tham dự Hội nghị đại biểu Đảng bộ Quảng Nam – Đà Nẵng khai mạc vào ngày 29. Ngày 23 tháng 6 năm 1994, ông thôi giữ chức vụ Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Ngân sách Quốc hội.
![]()
""Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, tinh thần của người chiến sĩ thời hoa lửa mãi mãi rực sáng.""
Sống mãi trong lòng nhân dân và đất nước
Tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII, Mai Thúc Lân tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Năm 1996, sau khi tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng tách ra thành tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng, Mai Thúc Lân trở thành Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam. Trong quá trình quy hoạch cán bộ cho thành phố Đà Nẵng, ông từng đề cử Nguyễn Bá Thanh đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố.
Ngày 20 tháng 9 năm 1997, tại Quốc hội Việt Nam khóa X, Mai Thúc Lân được bầu làm Phó Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiêm Phó Bí thư Đảng đoàn Quốc hội, đồng thời tiếp tục giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam cho đến khi Nguyễn Đức Hạt thay thế ông làm bí thư mới từ tháng 10 năm 1997. Bên cạnh đó, ông còn là Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa VIII, IX, X. Mai Thúc Lân nghỉ hưu từ năm 2002.
Ông qua đời vào ngày 29 tháng 10 năm 2014 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Hà Nội. Lễ tang của ông được Chính phủ tổ chức theo nghi thức cấp Nhà nước tại Nhà tang lễ Quốc gia vào ngày 4 tháng 11 cùng năm, sau đó thi hài được an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch.
Ghi nhận những chiến công đặc biệt xuất sắc và sự cống hiến quên mình vì nền độc lập tự do của Tổ quốc, Đảng và Nhà nước đã phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho đồng chí Mai Thúc Lân. Tấm gương sáng ngời của người anh hùng mãi mãi là niềm tự hào của quê hương Bắc Giang và dân tộc Việt Nam, là bài học lịch sử vô giá soi đường cho các thế hệ trẻ hôm nay noi gương học tập và noi theo.


