Khúc Tráng Ca Vùng Đất Gió Ngàn
Mùi bùn non mặn mòi quyện với hương tràm đước của vùng đất Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang từ lâu đã ngấm sâu vào ký ức của Huỳnh Hiếu. Sinh năm 1955, cậu thanh niên lớn lên ven những con rạch quanh năm nước triều lên xuống, nghe tiếng sóng vỗ rì rào từ phía Vịnh Thái Lan và cả những âm thanh vọng về từ một thời chiến tranh khốc liệt. Ngày Hiếu bước sang tuổi mười tám, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, anh gác lại những buổi trưa khua chèo qua sóng nước quê nhà, xếp vội bộ quần áo cũ vào chiếc ba lô rồi ngoảnh lại nhìn mẹ già đứng ngóng bên hàng dừa nước, chính thức lên đường nhập ngũ.
Được biên chế vào đội hình chiến đấu chi viện cho chiến trường miền Đông và vùng ven Sài Gòn, Hiếu từ một chàng trai miền Tây chân chất nhanh chóng được tôi luyện thành một người lính trinh sát gan góc. Những đêm hành quân qua những cánh rừng tràm ngập nước hay những trảng cỏ ngập tràn ánh lân tinh đã quen thuộc với anh chẳng khác nào lối đi dọc các con kinh rạch ở An Biên quê nhà. Giữa lằn ranh mong manh của sự sống và cái chết, tình đồng đội chính là ngọn lửa sưởi ấm những năm tháng gian khổ ấy. Đó là những bát cơm nấu vội bên bếp Hoàng Cầm, là điếu thuốc chia đôi chuyền tay nhau trong hầm dã chiến, và là cả những cái siết tay đầy nghẹn ngào khi một người đồng đội ngã xuống trước giờ phút toàn thắng. Trong một trận càn ác liệt ở vùng đất đỏ, Hiếu từng bị thương ở vai trái, nhưng vết sẹo ấy chưa bao giờ làm chùng bước chân anh, ngược lại càng nung nấu thêm quyết tâm đi đến tận cùng con đường độc lập.
Đỉnh điểm của cảm xúc dồn nén suốt bao năm tháng chiến tranh vỡ oà vào trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975. Khi tiếng loa phát thanh vang lên bản tin miền Nam hoàn toàn giải phóng, Huỳnh Hiếu đứng lặng giữa đất trời Sài Gòn rợp bóng cờ hoa, nước mắt trào ra hòa lẫn với khói súng còn vương vương trên áo. Giây phút ấy, anh nghẹn ngào nhớ về những người đồng chí đã nằm lại lòng đất mẹ, nhớ về dòng sông quê hương ở miền Tây Nam Bộ đang đón chờ ngày hòa bình trọn vẹn.
Vài năm sau ngày đất nước thống nhất, khi hoàn thành nghĩa vụ bảo vệ biên giới và ổn định hậu phương, Huỳnh Hiếu xuất ngũ trở về quê hương Đông Thái. Mang trên mình thương tật chiến tranh cùng tấm huân chương vẻ vang, anh lại xắn tay áo bám lấy ruộng đồng, cùng bà con khai hoang phục hóa, dựng lại mái nhà tranh bên dòng rạch cũ. Chiến tranh đã lùi xa vào quá khứ, những vết thương thời trai trẻ đôi khi vẫn nhói đau mỗi độ trái gió trở trời, nhưng ánh mắt của người cựu chiến binh năm nào vẫn luôn sáng ngời niềm tự hào. Giữa cuộc sống thanh bình hôm nay, nhìn những đứa cháu nhỏ vui đùa dưới bóng dừa xanh ngút ngàn của xứ sở An Biên, Huỳnh Hiếu mỉm cười mãn nguyện, biết rằng tuổi thanh xuân mình gửi lại cho chiến trường xưa đã góp phần đổi lấy yên bình cho hôm nay và mai sau.



