Kí Ức Bên Đời
nói về cô cùng các chi em tham gia thời chiến , cuộc sống gian nan nguy hiểm nhưng vẫn kiên cường

KÝ ỨC BÊN ĐỜI
Những năm 1965 – 1967, tuyến đường C1 giáp ranh biên giới Việt Nam – Campuchia trở thành huyết mạch giao liên và vận chuyển lương thực, khí tài vô cùng quan trọng của tỉnh nhà. Ngày ấy, nghe theo tiếng gọi của cách mạng, bốn cô gái trẻ chung một ấp rủ nhau xung phong lên đường. Để bảo mật thông tin cho gia đình ở quê, tổ chức đặt lại tên mới cho từng người: cô Út, cô Xuân, bà Bông Đẹp và cô.
Đơn vị giao liên toàn nữ, nhiệm vụ chính là bám trụ công sự, nhận và chuyển giao hàng hóa. Chiều tối, khi mặt trời lặn hẳn, các cô mới ngoi lên mặt đất bàn giao hàng, dặn dò vài câu rồi lại nhanh chóng rút xuống hầm ẩn nấp. Việc vận chuyển lương thực nặng nhọc và nguy hiểm hơn do các anh nam đảm nhận.
Đầu năm 1967, cô cùng đồng đội sang bám trụ bên đất bạn Campuchia để vận chuyển và tiếp tế hàng hóa. Cuộc sống nơi chiến trường khốc liệt ngoài sức tưởng tượng. Những trận đánh lớn huy động cả ngàn quân, tiếng pháo đạn rền trời,máy bay trực thăng đối phương tuần tra, bắn phá liên tục ngày đêm. Ban ngày, chị em chỉ biết nép mình dưới lòng đất. Đêm đến, vì quá mòn mỏi, họ mới chợp mắt được trong trạng thái phập phồng, pháo đánh banh cả kho tàng.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Cái đói quay quắt bám riết lấy đơn vị. Ở khu vực Cô Tô, Mìn Xây hay Đồng Tràm, có những đợt chị em phải nhịn đói hai, ba ngày liền. Lương thực cháy rụi, không thể nhóm lửa vì sợ lộ khói, các anh nam phải bò ra rừng đào từng củ nào, củ đẻ đưa cho chị em ăn sống qua bữa để cầm cự.
Trước sự càn quét dữ dội, đơn vị rút dần từ vùng đồng trống về Hồ Măng, Hồ Me, rồi luồn sâu vào các hang đá ở vùng núi Hòn Đất để tiếp tục chiến đấu. Đồng đội rơi rớt và hy sinh gần hết qua từng chặng đường.
Đến năm 1975, hòa bình lặp lại, cô mới rời đất bạn trở về quê hương. Dù giai đoạn sau ác liệt không bằng những năm tháng bám trụ bên Campuchia, nhưng cái giá phải trả là quá lớn. Mấy mươi năm trôi qua, trong số bốn người con gái cùng ấp xung phong ngày nào, hai người đã nằm lại nơi chiến trường, một người lấy chồng về An Giang, giờ chỉ còn lại mỗi cô độc hành với ký ức của Tỉnh đoàn cũ.
Chiến tranh lùi xa, những đồng đội cũ người còn người mất, giấy tờ liên lạc cũng thất lạc theo thời gian. Ngồi lại giữa thời bình, nhắc về một thời máu lửa, cô chỉ biết thở dài xót xa: "Giờ còn mình ên tao... Phải không biết chừng nào mới hết nhớ."



