Cựu Thanh niên xung phong

KÍ ỨC CỦA NGƯỜI LÍNH

Hưng Yên26/12/2025Đặng Quỳnh Nga (Đoàn xã Bình Thanh)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc ta, đã có nhiều những cuộc kháng chiến bảo vệ bờ cõi, non sông của đất nước. Những cuộc kháng chiến ấy như một lời khẳng định về khẳng định về chủ quyền, sức mạnh của nhân dân Việt Nam từ trước đến nay. Trong đó cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) có thể là cuộc kháng chiến dài nhất, ác liệt nhất nhưng cũng là một trong những chiến thắng vĩ đại và vẻ vang nhất trong lịch sử dân tộc ta. Nhưng để có được chiến thắng ấy đã không biết bao nhiêu chiến sĩ ngã xuống, hàng trăm nghìn người trở thành thương binh, bệnh binh, mang trong mình những mất mát, đau thương của chiến tranh đến tận ngày nay. Và ông ngoại tôi là một trong những người chiến sĩ ấy.

Ông tôi tên đầy đủ là Bùi Tấn Thuyên sinh năm 1944,quê ở thôn Dương Liễu,xã Bình Thanh,tỉnh Hưng Yên. Ông là con trai duy nhất trong gia đình có sáu chị em gái. Bố mẹ ông đều là nông dân, quanh năm xoay xở ruộng đất, gia đình nghèo khó nên sau khi học hết bổ túc lớp 7 (Hết cấp 2 vào thời kỳ đó).

Vào năm 19 tuổi, ông làm thanh niên xung phong đi đắp đê, lấn biển ở lâm trường Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh. Đến năm 1963, khi đã hết hạn thanh niên tình nguyện, vì tình cảnh gia đình ngày càng đi xuống, ông đã về quê hương phụ giúp gia đình. Năm 1964, khi ông đã có một vợ, một con ông tôi vẫn quyết định tham vào cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Lúc đó ông vừa tròn hai mươi tuổi, trong độ tuổi còn trẻ, còn khoẻ, ông được giao nhiệm vụ làm bộ đội trinh sát thuộc trung đoàn 174 thuộc sư đoàn 316 quân khu Tây Bắc. Hành trình trinh chiến của ông bắt đầu ở chiến trường Việt-Lào của tỉnh Phông-Xa-Li. tỉnh Sầm Nưa. Sau khi trở về vào năm 1966, ông kết nạp đảng cộng sản, tiếp tục nhiệm vụ chiến đấu ở chiến trường miền Nam. Trong hai lần, đối với ông chiến trường miền Nam là nơi để lại nhiều dấu ấn sâu đậm nhất trong kí ức về một thời kỳ rực lửa.
Biết được điều đó, tôi tự hỏi rằng: “ Từ lúc hoà bình đến bây giờ, ông đã quên điều gì về bom đạn, khói lửa nơi chiến trường chưa ông?.” Ông ngừng một lát rồi nói: “ Nhớ chứ, sao quên được bời vì khi mà người ta đưa ông ra Bắc chữa trị ông mới biết mình còn sống, khi cái chết lúc nào cũng cận kề, tại lúc nào nghe tiếng súng là thứ mà ông nhớ lâu, nhớ mãi không quên được.” Rồi như một cuốn phim tua lại trước mắt,ông chậm kể…. Khi bắt đầu hành quân từ Hoà Bình vào đến chiến trường Tây Nguyên, hơn một nghìn chiến sĩ của của trung đoàn đi vào những khu rừng khổng lồ của Tây Nguyên, một trong những nơi đầu tiên mà quân Mỹ rải chất độc màu da cam (Dioxin) khiến rừng cây cây chết khô, trơ trọi. Chính điều này đã khiến trong hàng trăm nghìn người trở nên dị dạng vì là con cháu của những những người lính nhiễm chất độc màu da cam quái ác mà bọn thực dân Mĩ rêu rao là thuốc diệt cỏ, không ảnh hưởng tới sức khoẻ con người. Cộng với tình trạng cơm không đủ no, áo không đủ mặc, để có thể cầm cự chiến đấu thì những người lính trong đó có cả ông tôi buộc phải uống nước từ các sông suối ngay cạnh những khu rừng bị rải chất độc. Giống như ông tôi nói, cứ sống được ngày nào là chiến đấu ngày đó, đây cũng chính là tinh thần chung của mọi chiến sĩ nơi ông tôi chiến đấu. Dù mỗi quả bom rơi xuống đều có thể lấp hết những đoạn chiến hàu sâu gần hai mét, gieo đau thương, chết chóc lên bao người chiến sĩ trẻ tuổi. Chính ông tôi là một chiến sĩ trinh sát, cũng đã hai lần bị thương đến nỗi mất khả năng chiến đấu vì bom đạn kẻ thù.

Lần thứ nhất là vào ngày 10/11/1967 trong chiến dịch Đắk Tô - Tân Cảnh. Khi đánh chốt 875 ở thung lũng Đắk Tô, Tân Cảnh ông bị một mảnh đạn đâm vào cổ chân phải, cơn đau ập đến khiến ông khuỵu xuống, đồng đội vội đưa ông ra phía sau chuyển vào trạm quân y chữa trị và băng bó. Vì điều kiện y tế rừng núi chỉ có bông băng, thuốc men lại không đáng kể nên sau ba tháng vết thương mới tạm lành, ông tiếp tục trở về đơn vị tham gia chiến dịch Mậu Thân 1968 - chiến dịch cuối cùng của người chiến sĩ trinh sát.
Đầu xuân 1968, miền Nam bước vào mùa khô với thời tiết không quá lạnh nhưng tình trạng thiếu cơm, thiếu thuốc men, đạn dược trong khi chiến sĩ có lúc hai ba ngày không chợp mắt do quân Mỹ tấn công ác liệt, trước tình hình đó quân dân ta khẩn trương chỉ đạo các mặt trận tiến công và nổi dậy giành thắng lợi với quyết định đó. Trong đó, trung đoàn 175 của ông tôi được giao nhiệm vụ tiêu diệt và giải phóng các chốt canh gác của địch, dùng sức bộ đội để đào đường, phá đường chặn tuyến giao thông mà quân Mỹ dùng ô tô để vận chuyển hàng hóa phục vụ chiến dịch. Vào buổi sáng ngày 28/3/1968, khi đơn vị đang phá đường tại quốc lộ 14 thì ô tô của giặc lại đang đi từ Pleiku đến Kontum, thế là bị giặc phát hiện. Từ những chiếc xe bọc thép, hàng trăm tên lính của địch cầm súng lao xồng xộc vào đơn vị ông như hổ đói. Bên trong xe, chúng gọi hỗ trợ từ máy bay, đại bác ở dưới ném bom vào bộ đội của ta. Đối mặt với những tên giặc cứ trốn sau xe bọc thép mà xả đạn liên hồi, dồn toàn lực chiến đấu ông và đồng đội năm ấy dựa vào sự nhanh nhẹn, tinh thần quả cảm đã tiêu diệt được gần hết lính Mỹ núp đằng sau xe bọc thép. Nhưng rồi tiếng rít vọng ra từ tứ phía đổ về quốc lộ 14, máy bay đạn pháo thi nhau bắn đến. Thêm vào đó, quân tiếp viện lính Mỹ cũng đến để giải vây. Bốn bề là giặc khiến quân ta khó lòng cầm cự, mỗi loạt súng nổ ra vang trời là lại có thêm vài chiến sĩ tử trận. Ông tôi dù đã rất bình tĩnh quan sát, bắn hạ từng tên địch đang hùng hổ bước đến nhưng lại chẳng may bị mảnh bom rơi xuống vỡ ra và văng thẳng vào gót chân trái. Thấy ông không thể đứng lên được nữa, những người đồng đội khác đã đưa ông về phía sau, băng bó tạm lại, đỡ ông lên cáng rồi chuyển về trạm quân y gần nhất trong khi họ vẫn tiếp tục chiến đấu và đẩy lùi quân giặc.
Vì điều kiện y tế ở miền Nam không đủ để chữa trị nên ông tôi được đưa về miền Bắc. Ở bệnh viện quân y 7, các bác sĩ đã kết luận mảnh bom trong chân ông nếu lấy ra thì 65% sẽ làm mất đi dịch nhầy ở cổ chân, khiến cho chân trái tê liệt không cử động di chuyển được mà chỉ như là một cái chân gỗ mà thôi. Vì sâu trong lòng ông vẫn còn mong muốn cống hiến cho đất nước, ông đã từ chối ca mổ để lấy mảnh bom đó ra. Sau gần sáu tháng điều trị, dưỡng thương thì sức khoẻ của ông đã không còn đủ để đáp ứng được tiêu chuẩn ra chiến tuyến thời đó. Thế là sau 5 năm cống hiến thanh xuân cho đất nước, ông trở về quê nhà và tiếp tục công tác hậu phương. Trong khoảng 19 năm công tác chính trị ở địa phương, ông đã từng được bổ nhiệm làm bí thư đảng bộ của xã trong hai nhiệm kỳ. Rồi đến năm ông tôi gần 50 tuổi, do sức khoẻ không còn cho phép, trí óc không còn minh mẫn nên ông đã quyết định nghỉ và trở về làm nông dân bình thường. Sau đó ông được nhà nước Lào truy tặng huy chương chiến công xuất sắc, huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba và huy chương chiến sĩ giải phóng của chính phủ nhà nước Việt Nam trao tặng. Đến ngày hôm nay khi ông đã ngoài 80 tuổi, thỉnh thoảng người chiến sĩ mang trong mình chất độc màu da cam, cả tiếng súng nổ nơi chiến trường vẫn lặng lẽ ngồi trong khoảng vườn tĩnh lặng nhớ lại một thời đã qua…

Tôi và ông ngoại thuộc hai thế hệ khác nhau, cách nhau cả nửa thế kỷ, có lẽ vì vậy nên vài suy nghĩ và quan niệm thời xưa mà ông kể khiến tôi rất bất ngờ, đôi khi là khó chấp nhận. Nhưng sự dũng cảm, can trường, tinh thần “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” của ông với các người chiến sĩ thời đó là một minh chứng sống thật vẻ vang, thật đáng tự hào về sự hinh sinh cao cả của thế hệ cha ông đi trước. Đồng thời cũng nhắc nhở chúng ta cần phải nhận thức rõ được giá trị của hoà bình, biết ơn các vị anh hùng, thương binh và liệt sĩ đã cống hiến hết mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, làm tròn trách nhiệm của một người học sinh là rèn luyện đạo đức, học tập thật chăm chỉ để góp phần xây dựng tương lai đất nước Việt Nam có thể bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu như lời bác Hồ từng căn dặn .

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn