Anh hùng Lực lượng vũ trang

KVHDLCTXH_ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN PHAN THỊ RÀNG (CHỊ SỨ) – NGƯỜI CON KIÊN TRUNG CỦA HÒN ĐẤT

Đồng Tháp24/06/2026Nguyễn Lê Ngọc Ngà (Đoàn Khoa Văn hóa - Du lịch và Công tác xã hội)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN PHAN THỊ RÀNG (CHỊ SỨ) – NGƯỜI CON KIÊN TRUNG CỦA HÒN ĐẤT

Có những con người sống rất ngắn ngủi, nhưng ánh sáng từ cuộc đời họ thì không bao giờ tắt. Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Thị Ràng - người con gái miền Tây với bí danh Tư Phùng, là một trong những ngọn lửa như thế. Sinh năm 1937 tại xã Lương Phi, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, và gắn bó, trưởng thành trong phong trào cách mạng ở Bình Sơn, Hòn Đất (Kiên Giang), chị đã hiến dâng trọn vẹn tuổi xuân cho độc lập, tự do của Tổ quốc.

Chị là con gái thứ ba trong một gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Tuổi thơ của chị không có những ngày bình yên đúng nghĩa. Bom đạn, càn quét, cảnh cha bị giặc giết hại… tất cả đã in hằn vào ký ức non trẻ, hun đúc trong chị một ý chí sắt đá phải đứng lên, phải giành lại cuộc sống yên lành cho quê hương. Có lẽ từ giây phút ấy, cô bé Phan Thị Ràng đã không còn là một đứa trẻ bình thường nữa, mà đã sớm mang trong mình trách nhiệm của một người con đất Việt.

Năm 1950, khi gia đình chuyển về vùng giải phóng Bình Sơn, chị mới 13 tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người còn vô tư với sách vở, trò chơi, chị đã tham gia Đội Thiếu niên cứu quốc với suy nghĩ rất giản dị: “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ.” Nhưng “việc nhỏ” của chị lại là những chuyến giao liên băng đồng, vượt rạch, chuyển tin tức, tiếp tế vũ khí giữa vòng vây kẻ thù. Ngôi nhà của chị trở thành điểm liên lạc của Công binh xưởng tỉnh Long Châu Hà. Từ việc phụ chở vũ khí, mua lúa xay xát cung cấp cho đơn vị, chị làm tất cả bằng sự tận tụy và niềm tin son sắt vào cách mạng. Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, vùng giải phóng rơi vào tình thế đầy biến động. Những người từng tham gia kháng chiến bị truy lùng, đàn áp. Gia đình chị nhiều lần phải lẩn tránh. Thế nhưng, càng gian nan, ý chí của chị càng vững vàng. Nhận thấy sự thông minh, nhanh nhẹn và khả năng vận động quần chúng của chị, tổ chức đã giao chị làm trinh sát, rồi phụ trách công tác thanh vận, liên lạc đường dài. Đó là những nhiệm vụ vô cùng nguy hiểm, đòi hỏi bản lĩnh và sự mưu trí.

Ở chị có một điều đặc biệt đó là sự mềm mại của người con gái không hề đối lập với tinh thần chiến đấu. Chị nói năng nhỏ nhẹ, gần gũi, nhưng khi đứng trước kẻ thù, lại kiên cường như thép. Năm 1959, chị được học lớp dự bị đảng viên, chuẩn bị cho hoạt động công khai, một dấu mốc cho thấy sự trưởng thành cả về lý tưởng lẫn nhận thức chính trị.

Năm 1960, phong trào Đồng khởi lan rộng khắp miền Nam. Tại Hòn Đất, chị được giao phụ trách lực lượng thanh niên phá lộ, đắp cản, bao vây đồn bót địch. Chị cùng bà con đấu tranh đòi chấm dứt bắn pháo bừa bãi, buộc chính quyền phải bồi thường cho dân. Không chỉ cầm súng, chị còn “cầm lời nói” lời nói thuyết phục, lay động lòng người, khơi dậy tinh thần đoàn kết. Ở chị là sự kết hợp hài hòa giữa trí tuệ, lòng nhân ái và lòng dũng cảm.

Tháng 1 năm 1962, địch huy động hơn 2.000 quân tấn công căn cứ Ba Hòn. Trong khói lửa mịt mù, chị vẫn làm nhiệm vụ liên lạc, tổ chức đấu tranh chính trị, binh vận, phối hợp với lực lượng vũ trang. Đêm 8 rạng sáng 9/1/1962, trên đường công tác, chị bị bắt.

Trước đòn roi, tra tấn dã man, chị không một lời khai báo. Câu nói của chị khẳng định mình làm cách mạng và không có gì để khai không chỉ là sự thách thức kẻ thù, mà còn là lời tuyên thệ với lý tưởng. Dù trong ngục tù, chị vẫn tìm cách động viên đồng chí, cảm hóa binh lính địch. Khi không thể khuất phục ý chí ấy, kẻ thù đã sát hại chị một cách tàn bạo. Dã man hơn, khi chị chết chúng treo ngược 2 tay lên nhánh cây xoài, thân hình lơ lửng trên không, dùng dao lam lóc từng thớ thịt. Chúng treo thi thể của chị trên cây qua 4 ngày đêm nhằm phục kích tóm gọn Quân giải phóng đến lấy xác chị.

Sự hy sinh của chị ở tuổi 25 khiến bao người đau đớn. Nhưng từ đau thương ấy, một biểu tượng đã ra đời. Nhà văn Anh Đức đã lấy cảm hứng từ cuộc đời chị để xây dựng hình tượng chị Sứ trong tiểu thuyết “Hòn Đất”, sau này được đạo diễn Hồng Sến chuyển thể thành phim. Hình ảnh người con gái hiên ngang giữa núi rừng Hòn Đất đã trở thành biểu tượng của phụ nữ miền Nam anh hùng.

Ngày 20/12/1994, chị được truy tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”. Nhưng có lẽ, danh hiệu lớn nhất chính là tình cảm và sự kính trọng của nhân dân dành cho chị.

Nhìn lại cuộc đời Phan Thị Ràng, ta không chỉ thấy một tấm gương anh dũng, mà còn thấy một bài học sâu sắc về lý tưởng sống. Trong thời bình hôm nay, khi không còn tiếng bom rơi đạn nổ, mỗi người trẻ càng cần tự hỏi rằng mình đã sống xứng đáng với sự hy sinh của thế hệ đi trước hay chưa?

Thời hoa lửa đã lùi vào quá khứ, nhưng những “bông hoa” như chị Sứ vẫn còn đó trong ký ức dân tộc. Họ nhắc ta nhớ rằng giữa lửa đỏ chiến tranh, con người vẫn có thể nở hoa. Và khi lòng yêu nước đủ lớn, tuổi trẻ, dù ngắn ngủi, vẫn có thể trở thành bất tử.

Ngọn lửa mà Tư Phùng thắp lên năm xưa không chỉ soi sáng một giai đoạn lịch sử, mà còn soi sáng con đường của thế hệ hôm nay, con đường sống có trách nhiệm, có khát vọng và biết yêu Tổ quốc bằng những hành động cụ thể mỗi ngày.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn