Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

KVHDLCTXH_MADAME NGUYỄN THỊ BÌNH - “NGƯỜI ĐÀN BÀ THÉP” KIÊN CƯỜNG, NHÀ NGOẠI GIAO BẢN LĨNH MANG TRÍ TUỆ VÀ CHÍNH NGHĨA VIỆT NAM VƯƠN TẦM THẾ GIỚI

Đồng Tháp24/06/2026Nguyễn Duy Linh (Đoàn Khoa Văn hóa - Du lịch và Công tác xã hội)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

MADAME NGUYỄN THỊ BÌNH - “NGƯỜI ĐÀN BÀ THÉP” KIÊN CƯỜNG, NHÀ NGOẠI GIAO BẢN LĨNH MANG TRÍ TUỆ VÀ CHÍNH NGHĨA VIỆT NAM VƯƠN TẦM THẾ GIỚI

Nguyễn Thị Bình tên khai sinh là Nguyễn Châu Sa, sinh ngày 26 tháng 5 năm 1927 tại tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình có truyền thống yêu nước và tinh thần khai sáng. Bà là cháu ngoại của chí sĩ Phan Châu Trinh – một nhà yêu nước tiêu biểu đầu thế kỷ XX với tư tưởng canh tân, đề cao dân quyền và cải cách xã hội. Chính môi trường gia đình ấy đã gieo vào tâm hồn bà từ thuở nhỏ lòng yêu nước sâu sắc, ý thức trách nhiệm trước vận mệnh dân tộc và niềm tin vào con đường đấu tranh vì độc lập, tự do.

Tuổi thơ và thời niên thiếu của bà gắn liền với bối cảnh đất nước chìm trong ách đô hộ của thực dân, phong trào yêu nước dâng cao trong các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là giới trí thức và học sinh – sinh viên. Khi còn là học sinh tại Sài Gòn, Nguyễn Thị Bình đã sớm tham gia các phong trào đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ. Bà tích cực tham gia hoạt động trong phong trào học sinh – sinh viên yêu nước, trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào thanh niên trí thức miền Nam thời bấy giờ.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công mở ra một trang sử mới cho dân tộc. Tuy nhiên, đất nước nhanh chóng bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp. Trong bối cảnh ấy, Nguyễn Thị Bình tiếp tục dấn thân vào con đường hoạt động cách mạng, tham gia công tác phụ nữ, thanh niên và tuyên truyền vận động quần chúng. Sự năng động, trí tuệ và bản lĩnh của bà giúp bà nhanh chóng trưởng thành trong tổ chức cách mạng, được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng.

Hoạt động trong kháng chiến chống Pháp và những năm đầu chống Mỹ

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945–1954), Nguyễn Thị Bình hoạt động chủ yếu ở miền Nam, tham gia công tác tuyên huấn và vận động quần chúng. Bà là một trong những cán bộ nữ trẻ tuổi tiêu biểu, góp phần củng cố phong trào yêu nước trong điều kiện vô cùng gian khổ, nguy hiểm. Bà từng bị chính quyền thực dân bắt giam do các hoạt động yêu nước, nhưng sau khi được trả tự do, bà vẫn tiếp tục con đường cách mạng.

Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, ngày 27/1/1973 tại Trung tâm hội nghị quốc tế ở thủ đô Paris (Pháp).

Hiệp định Genève năm 1954 được ký kết, đất nước tạm thời chia cắt hai miền. Miền Nam rơi vào sự kiểm soát của chính quyền Sài Gòn, được hậu thuẫn bởi Hoa Kỳ. Trong bối cảnh đó, Nguyễn Thị Bình tiếp tục tham gia hoạt động bí mật, góp phần xây dựng lực lượng chính trị cách mạng tại miền Nam. Bà tham gia lãnh đạo phong trào phụ nữ, thanh niên và trí thức yêu nước, kiên trì đấu tranh đòi hòa bình, thống nhất đất nước.

Năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, đánh dấu bước phát triển mới của cách mạng miền Nam. Nguyễn Thị Bình được giao nhiều trọng trách trong lĩnh vực đối ngoại và tuyên truyền quốc tế. Với trình độ, khả năng ngoại ngữ và tư duy sắc bén, bà sớm trở thành một trong những cán bộ đối ngoại xuất sắc của cách mạng miền Nam.

Một trong những mốc son chói lọi nhất trong cuộc đời hoạt động của Nguyễn Thị Bình chính là vai trò Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Paris.

Cuộc đàm phán kéo dài từ năm 1968 đến năm 1973 là một trong những tiến trình ngoại giao phức tạp và gay go nhất trong lịch sử hiện đại Việt Nam. Nguyễn Thị Bình được cử làm Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời, trực tiếp đối thoại với đại diện của Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn. Trên bàn đàm phán, bà thể hiện phong thái điềm tĩnh, lý lẽ sắc sảo, lập luận chặt chẽ và lập trường kiên định.

Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. Nguyễn Thị Bình là người phụ nữ duy nhất trong bốn bên tham gia ký kết văn kiện lịch sử này. Hình ảnh bà ký vào bản hiệp định đã trở thành biểu tượng của trí tuệ và bản lĩnh người phụ nữ Việt Nam trên trường quốc tế.

Vai trò của bà tại Paris không chỉ là thành công về mặt cá nhân, mà còn góp phần khẳng định tính chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho thắng lợi hoàn toàn của cách mạng miền Nam vào năm 1975.

Bà Nguyễn Thị Bình tại lễ ký Hiệp định Paris

- Ngày 27/1/1973, ngày ký kết Hiệp định Paris có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với dân tộc. Đối với tôi, đây cũng là ngày không thể quên trong đời, tôi vô cùng xúc động.

Tôi nhớ rất rõ, sáng hôm đó, trước tòa nhà, hàng nghìn người vẫy chào chúng tôi giữa một rừng cờ. Tôi bước vào phòng họp với tâm trạng hồi hộp.

10h, bốn Bộ trưởng Ngoại giao đại diện các bên gồm: Đồng chí Nguyễn Duy Trinh đại diện của Việt Nam Dân chủ cộng hoà, tôi Nguyễn Thị Bình đại diện cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Phía Mỹ là ông William P.Rogers, còn Việt Nam Cộng hoà là ông Trần Văn Lắm, cùng ngồi vào bàn. Mỗi người ký vào 32 văn bản của Hiệp định.

Đặt bút ký, tôi như thay mặt nhân dân và các chiến sĩ cách mạng miền Nam Việt Nam, vinh dự đó đối với tôi thật to lớn. Tôi nghĩ đến những anh hùng đã hy sinh, đổ xương máu ở mặt trận để góp phần có được bản Hiệp định Paris lịch sử này. Thời điểm đó, tôi rất hy vọng Hiệp định sẽ chấm dứt chiến tranh, kết thúc những đau khổ của nhân dân ta.

Bà Nguyễn Thị Bình thông minh, sắc sảo mà hòa nhã khi tiếp xúc với truyền thông quốc tế trong quá trình đàm phán Hiệp định Paris.

Hồi tưởng đến giây phút lịch sử ấy, Nguyên Phó Chủ tịch nước bùi ngùi kể lại: "Hôm ấy, trời Paris hửng nắng, các đoàn lần lượt đến đại lộ Kléber. Điều hết sức xúc động là hai bên đường và trước cửa Trung tâm hội nghị quốc tế, người đông nghịt giữa rừng cờ đỏ sao vàng và cờ sao vàng trên nền nửa đỏ, nửa xanh (cờ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam - PV), tưng bừng vẫy gọi, chào đón chúng tôi, chúc mừng lễ ký kết".

Còn trong cuốn hồi ký của mình, bà viết: “Đặt bút ký vào văn bản hiệp định Paris lịch sử, tôi vô cùng xúc động... Tôi không có đủ lời để nói lên được lòng biết ơn vô tận với đồng bào và chiến sĩ ta từ Nam chí Bắc đã chấp nhận mọi hy sinh, dũng cảm chiến đấu để có được thắng lợi to lớn hôm nay”.

Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết ngày 27/1/1973, tuy nhiên phái đoàn Việt Nam trải qua gần 5 năm đấu tranh ngoại giao cam go. Khi rời Hà Nội sang Pháp vào cuối năm 1968, không thành viên nào trong đoàn nghĩ tới quãng thời gian đằng đẵng đấu tranh ngoại giao bền bỉ như vậy. Bà Nguyễn Thị Bình kể lại cuộc đấu tranh lịch sử bằng ngôn ngữ giản dị, cô đọng và trung thực.

Có những giai đoạn hầu như ngày nào đoàn cũng phải tiếp một hay hai hãng truyền hình hoặc phóng viên các báo Pháp, Mỹ, Anh, Nhật… Báo chí nhìn chung có thiện cảm đối với đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Trước những vấn đề tế nhị, cả đoàn cùng nhau bàn bạc để có cách trả lời thống nhất, khôn ngoan. “Mặt trận đối ngoại là một chiến trường, vừa đấu trí, vừa đấu lý và lần nào chúng ta cũng giành thắng lợi”, bà kể.

Bà Nguyễn Thị Bình cũng không ít lần phải đối diện với những câu hỏi khó, như xoáy vào vấn đề có quân đội miền Bắc ở miền Nam Việt Nam hay không. “Chúng tôi được chỉ thị không nói có mà cũng không nói không. Tôi trả lời: Dân tộc Việt Nam là một, người Việt Nam ở Bắc cũng như Nam đều có nghĩa vụ chiến đấu chống xâm lược. Các nhà báo có xoay đi xoay lại thế nào chúng tôi cũng chỉ một mực giữ nguyên cách nói đó, cuối cùng họ cũng đành chịu”.

Cuốn sách “Gia đình, bạn bè và đất nước” được tái bản đúng dịp kỷ niệm 50 năm thống nhất đất nước.

Đóng góp trong sự nghiệp xây dựng đất nước sau 1975

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, đất nước hoàn toàn thống nhất, bước vào thời kỳ hàn gắn vết thương chiến tranh và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nguyễn Thị Bình tiếp tục được Đảng và Nhà nước tin tưởng giao nhiều trọng trách.

Từ năm 1976 đến năm 1987, bà giữ chức Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, ngành giáo dục phải đối mặt với hàng loạt thách thức: cơ sở vật chất nghèo nàn, đội ngũ giáo viên thiếu hụt, chương trình – sách giáo khoa cần thống nhất giữa hai miền. Dưới sự lãnh đạo của bà, ngành giáo dục từng bước được củng cố và phát triển, đặt nền móng cho hệ thống giáo dục thống nhất trên cả nước.

Bà luôn nhấn mạnh vai trò của giáo dục trong việc đào tạo con người mới xã hội chủ nghĩa, đề cao tinh thần học tập, rèn luyện và cống hiến. Nhiều chính sách cải cách giáo dục trong giai đoạn này mang dấu ấn tư duy thực tiễn và trách nhiệm xã hội của bà.

Năm 1992, Nguyễn Thị Bình được bầu làm Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và đảm nhiệm cương vị này đến năm 2002. Đây là giai đoạn đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.

Trên cương vị Phó Chủ tịch nước, bà tham gia nhiều hoạt động đối nội và đối ngoại quan trọng, góp phần tăng cường quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam với các quốc gia trên thế giới. Với kinh nghiệm ngoại giao phong phú và uy tín quốc tế cao, bà tiếp tục là cầu nối quan trọng trong việc thúc đẩy hợp tác quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè năm châu đối với sự nghiệp phát triển của Việt Nam. Bà cũng dành nhiều tâm huyết cho các hoạt động xã hội, đặc biệt là lĩnh vực giáo dục, trẻ em và bình đẳng giới. Hình ảnh một nữ lãnh đạo giản dị, gần gũi nhưng đầy bản lĩnh tiếp tục ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng nhân dân.

Sau khi thôi giữ chức vụ Phó Chủ tịch nước năm 2002, Nguyễn Thị Bình vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội. Bà là Chủ tịch Quỹ Hòa bình và Phát triển Việt Nam, tham gia nhiều diễn đàn quốc tế về hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững.

Bà thường xuyên lên tiếng vì hòa bình, công lý và quyền tự quyết của các dân tộc, đồng thời bày tỏ quan điểm thẳng thắn về những vấn đề xã hội trong nước. Ở tuổi cao, bà vẫn giữ được sự minh mẫn, tinh thần trách nhiệm và lòng trăn trở đối với vận mệnh đất nước.

Cuộc đời hoạt động của Nguyễn Thị Bình là minh chứng sinh động cho hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời đại mới: trí tuệ, bản lĩnh, nhân hậu và kiên định. Từ một nữ sinh yêu nước trở thành nhà ngoại giao tầm cỡ quốc tế, từ người ký Hiệp định Paris đến Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Phó Chủ tịch nước, mỗi chặng đường của bà đều gắn liền với những bước ngoặt quan trọng của lịch sử dân tộc.

Bà được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có Huân chương Hồ Chí Minh và Huân chương Sao Vàng – phần thưởng cao quý nhất của Nhà nước Việt Nam.

Không chỉ là một chính khách, bà còn là nhân chứng sống của những biến cố lớn lao trong thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI của Việt Nam. Tư duy độc lập, phong cách điềm tĩnh, khả năng đối thoại mềm dẻo nhưng kiên định của bà đã góp phần định hình diện mạo ngoại giao Việt Nam hiện đại.

Câu nói nổi tiếng bất hủ của bà Nguyễn Thị Bình trả lời các nhà báo quốc tế tại Paris (Pháp)

“Tôi là người hạnh phúc”, bà Nguyễn Thị Bình khẳng định. Bà đã lấy được người mình yêu, và đó cũng là mối tình đầu dù hai người gặp gỡ và phải xa cách, bặt tin nhau tới 9 năm trong kháng chiến chống Pháp. Hai ông bà thường xa nhau, nhưng bà Nguyễn Thị Bình khẳng định, tình nghĩa giữa hai người đã giúp bà đứng vững và hoàn thành nhiệm vụ. Trong quá trình hoạt động cách mạng, con còn nhỏ thường xuyên xa mẹ, hoặc trong thời gian ra nước ngoài đàm phán, bà được chồng động viên, cố gắng một mình chăm sóc hai con nhỏ.

“Cũng có thể nói tôi có một cuộc đời rất lạ: không thể tách ảnh hưởng và tình thương của gia đình trên mỗi bước đường nhiều nỗi gian truân của mình. Đó là sức mạnh và cũng là hạnh phúc của đời tôi”, bà viết.

Ở tuổi cận kề 100, bà Nguyễn Thị Bình vẫn minh mẫn, tự tay sửa và bổ sung bản thảo hồi ký.

Tổng Bí thư Tô Lâm trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động cho bà Nguyễn Thị Bình

Ở tuổi 99, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình vẫn toát lên thần thái điềm tĩnh, minh triết, bản lĩnh như trong những thước phim, hình ảnh tư liệu khi bà đảm nhiệm vai trò Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Paris (1968-1973).

Nhìn lại trọn vẹn cuộc đời hoạt động của Nguyễn Thị Bình, có thể thấy đó là hành trình hơn nửa thế kỷ gắn bó với cách mạng và đất nước. Bà đã đi qua chiến tranh, hòa bình, thống nhất và đổi mới; đã chứng kiến và trực tiếp tham gia vào những sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc.

Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam ký Hiệp định Paris năm 1973 sẽ mãi là biểu tượng của trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng hòa bình. Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Thị Bình không chỉ là niềm tự hào của phụ nữ Việt Nam mà còn là nguồn cảm hứng sâu sắc cho các thế hệ hôm nay và mai sau trong hành trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn