Mẹ Việt Nam Anh hùng

KVHDLCTXH_MẸ NGUYỄN THỊ THỨ - BIỂU TƯỢNG VĨNH HẰNG CỦA SỰ HY SINH

Đồng Tháp24/06/2026Nguyễn Lê Cát Tiên (Đoàn Khoa Văn hóa - Du lịch và Công tác xã hội)4 lượt xem0 lượt chia sẻ
MẸ NGUYỄN THỊ THỨ - BIỂU TƯỢNG VĨNH HẰNG CỦA SỰ HY SINH

Ảnh có chứa Mặt người, trang phục, người, Bát trộn

Nội dung do AI tạo ra có thể không chính xác.


Quê nhà mẹ Thứ những ngày này nhộn nhịp kỷ niệm 45 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Nhà mẹ Thứ đơn sơ, yên bình. Nhiều người đến dâng hương, tưởng nhớ mẹ và các anh hùng liệt sĩ. Trên tường nhà treo 12 bằng Tổ quốc ghi công và trên bàn thờ hương khói của 9 người con trai mẹ Thứ. Nhiều người dân xã Điện Thắng Trung vẫn nhớ từng chi tiết về gia đình mẹ Thứ. Vợ chồng mẹ cùng con gái đầu bám trụ xóm làng, vừa sản xuất, vừa đào hầm nuôi giấu cán bộ. Hằng đêm, mẹ để ngọn đèn sáng bên bàn thờ làm ám hiệu an toàn cho cán bộ, du kích đi về hoạt động.Vườn nhà mẹ rộng, có 5 căn hầm bí mật. Quanh vườn có nhiều cây xanh và cỏ, nuôi nhiều bò để ngụy trang. Lúc an toàn, mẹ Thứ và các con mở hé cửa hầm để mọi người dễ thở và khi có động thì lại giả vờ trông coi bò để chỉnh sửa, ngụy trang lại miệng hầm. Hàng trăm cán bộ, bộ đội, du kích được gia đình mẹ Thứ chở che, chăm sóc...

Hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng những mùa xuân không bao giờ trở lại của hàng triệu bà mẹ Việt Nam. Trong mạch nguồn thiêng liêng ấy, mẹ Nguyễn Thị Thứ (1904–2010, thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) hiện lên như một tượng đài bất tử của lòng yêu nước. Từ mái nhà tranh giữa vùng cát trắng, mẹ tiễn chín người con trai, hai cháu ngoại và một con rể ra đi vì độc lập, tự do của dân tộc. Mười hai người thân yêu ngã xuống, để lại trong lòng mẹ khoảng trống không gì bù đắp được.

Tiếng ru của mẹ từng hòa vào tiếng bom đạn, âm thầm nuôi lớn những trái tim quả cảm. Dáng hình gầy guộc ấy không chỉ là nỗi đau của riêng một người mẹ, mà còn là biểu tượng cho ý chí bền bỉ, cho tình yêu nước thầm lặng mà vĩ đại. Cuộc đời mẹ trở thành di sản tinh thần thiêng liêng, nhắc nhở mỗi chúng ta hôm nay phải biết trân trọng hòa bình và sống xứng đáng với những hy sinh cao cả ấy.

Sinh ra và lớn lên giữa miền Trung nắng gió, mẹ Nguyễn Thị Thứ sớm thấm thía nỗi cơ cực của một đời lam lũ. Mười tám tuổi, mẹ nên duyên cùng ông Lê Tự Trị – người nông dân hiền hậu, chất phác. Mười hai lần vượt cạn là mười hai lần mẹ đón niềm vui xen lẫn nỗi lo canh cánh khi cái nghèo vẫn đeo bám mái nhà tranh giữa vùng cát trắng.

Rồi thực dân Pháp tái xâm lược, khói lửa chiến tranh trùm lên từng làng quê xứ Quảng. Ông Trị và các con trai lần lượt gia nhập du kích. Trước hiên nhà lợp rơm, mẹ nhẹ tay buộc dải khăn đỏ lên vai con, không khóc, chỉ dặn một câu giản dị mà gan ruột: “Còn nước mình thì còn nhà mình.”

Từ đó, từng người con ra đi và không trở lại.

- Người con thứ ba, Lê Tự Xuyến – giao liên – hy sinh năm 1948. Chưa đầy mười ngày sau, người con thứ tư, Lê Tự Hàn, ngã xuống khi đang tải thương. Cùng tháng ấy, người con thứ năm, Lê Tự Hãn, hy sinh trên mặt trận Điện Bàn. Đầu tháng 4 năm 1954, đến lượt người con thứ sáu, Lê Tự Lem, ra đi khi vừa tròn hai mươi tuổi.

- Năm 1966, người con thứ bảy, Lê Tự Nự, bỏ mình ở mặt trận Khu 5. Mùa hè đỏ lửa năm 1972, hai người con, Lê Tự Mười và Lê Thượng Trịnh, cùng anh dũng hy sinh.

- Mẹ từng khấp khởi mong ngày người con trai cả, anh Lê Tự Truyện, trở về khi chiến dịch giải phóng Sài Gòn bước vào hồi kết. Nhưng khoảng 9 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, người chiến sĩ ấy đã ngã xuống ngay cửa ngõ Sài Gòn, chỉ vài giờ trước thời khắc đất nước hoàn toàn thống nhất.

Chiến thắng vỡ òa, còn mẹ lặng đi. Hòa bình đến, nhưng những đứa con của mẹ mãi mãi không về.

Không chỉ các con, con rể của mẹ – ông Ngô Tường – cũng bị thực dân Pháp tra tấn đến kiệt sức và qua đời năm 1956. Hai cháu ngoại, Ngô Thị Cúc và Ngô Thị Điều, lần lượt hy sinh trong mưa bom đạn những năm 1973 và 1974, khi tuổi đời còn rất trẻ. Mỗi tờ giấy báo tử gửi về như một nhát dao cứa sâu vào trái tim người mẹ. Nhưng mẹ không gục ngã. Mẹ cắn răng chịu đựng, nuốt nước mắt vào trong, âm thầm biến đau thương thành lửa – lửa của niềm tin vào đất nước, lửa của một trái tim không khuất phục, lửa nung nấu ý chí để tiếp tục tiếp sức cho kháng chiến.

Không chỉ tiễn con ra trận, mẹ còn trực tiếp trở thành một “pháo đài sống” nơi hậu phương. Vườn nhà được mẹ cùng con gái cả Lê Thị Trị bí mật đào ba căn hầm sâu, ngụy trang dưới bụi tre và gốc mít. Nơi ấy, cán bộ Khu 5 họp bàn tác chiến, thương binh trú ngụ, vũ khí tạm cất giấu trước giờ xuất kích. Cựu chiến binh Lê Tự Tân từng kể: “Tôi chui xuống hầm, thấy nồi cơm đồng to như cái nia, khói thơm mùi lúa mới. Mẹ bưng gáo cơm chuyền từng tay, hơi ấm ấy xua tan mưa gió Phước Hà.”

Khi địch càn quét, mẹ khoác nón lá, ẵm bó cỏ giả vờ chăn bò để xóa dấu cửa hầm. Đêm xuống, bên ngọn đèn dầu leo lét, mẹ khâu vá áo trận, gói cơm nắm, trộn muối rang gửi tiếp tế. Cuối năm 1948, ba vành khăn tang liên tiếp phủ lên mái tóc bạc, nhưng mẹ vẫn viết thư cho đơn vị: “Con ơi, mẹ còn đất, còn lụa chôn nhau, đừng chùn bước.” Lời nhắn ấy theo bước chân người lính ra chiến trường, trở thành nguồn động viên thầm lặng mà bền bỉ.

Tết Mậu Thân 1968, pháo sáng rạch nát bầu trời Điện Bàn, mẹ đứng giữa ruộng ngập nước, lặng nhìn về phía núi Thành Mỹ – nơi Lê Tự Nự đang gài mìn giữa chiến trường khốc liệt. Mùa hè đỏ lửa năm 1972, khi nhận tin Lê Tự Mười và Lê Thượng Trịnh hy sinh, mẹ lịm đi. Tỉnh lại, mẹ chỉ khẽ dặn con gái: “Lo hương khói cho anh, rồi tiếp tục nuôi quân.”

Ngôi nhà lá năm nào dần trở thành một đài liệt sĩ thu nhỏ: chín tấm bằng “Tổ quốc ghi công” kê kín vách, di ảnh con rể và hai cháu đặt trang trọng ở chính giữa. Mẹ bảo những người đến viếng: “Mẹ còn hơi thở là còn lo cho cách mạng.”

Năm 1998, khi một phóng viên Hàn Quốc hỏi: “Vì sao bà vẫn động viên con ra trận khi đã mất bốn, năm người?”, mẹ điềm đạm trả lời: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Còn giặc thì còn đi.” Câu nói giản dị mà kiên cường ấy khiến vị khách cúi đầu, bởi ông hiểu rằng chiến tranh đã đặt lên vai một người mẹ Việt Nam sự hy sinh phi thường đến nhường nào.

Ngày 17-12-1994, Chủ tịch nước Lê Đức Anh ký quyết định tặng và truy tặng danh hiệu Bà mẹ VNAH đợt đầu tiên cho 19.879 bà mẹ, trong đó có mẹ Thứ. Trân trọng với những gì các Bà mẹ VNAH đã cống hiến cho Tổ quốc, cho nhân dân, năm 2004, Đảng và Nhà đồng ý xây dựng quần thể tượng đài Bà mẹ VNAH. Ngày 27-7-2009, công trình được khởi công tại núi Cấm (thôn Phú Thạnh, xã Tam Phú, TP.Tam Kỳ, Quảng Nam) rộng 150.000m2 (15ha); hoàn thành ngày 24-3-2015. Đây là tượng đài Bà mẹ VNAH lớn nhất nước.

Text Box: Hình 2: Chân dung Bà mẹ Việt Nam anh hùng lấy nguyên mẫu từ mẹ Thứ tại Quần thể tượng đài Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại núi Cấm (thôn Phú Thạnh, xã Tam Phú, TP.Tam Kỳ, Quảng Nam).Ảnh có chứa mây, bầu trời, bức tượng, ngoài trời

Nội dung do AI tạo ra có thể không chính xác.Đặc biệt, công trình lấy nguyên mẫu từ mẹ Nguyễn Thị Thứ. Với ý tưởng: Mẹ là suối nguồn bao la vô tận, là linh hồn đất nước. Mẹ sinh ra từ mảnh đất anh hùng, rồi sinh ra những người con anh hùng và sẽ lại hoá thân vào đất, vào non nước Việt Nam. Mẹ sẽ sống mãi ngàn đời, vẫn tiếp thêm nguồn sức mạnh mẽ cho các thế hệ trẻ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Mẹ Nguyễn Thị Thứ đã qua đời hồi 1 giờ 40 phút ngày 10 tháng 12 năm 2010, thượng thọ 106 tuổi, an táng tại Nghĩa trang liệt sĩ huyện Điện Bàn ở xã Điện Thắng Trung. Sự ra đi của người mẹ VNAH để lại nhiều điều nuối tiếc cho Nhà nước, rất nhiều lãnh đạo cấp cao đã đến dự viếng tang lễ,nhiều tờ báo đã cập nhật thông tin về tiểu sử và tang lễ của bà.

Ảnh có chứa chai lọ, trong nhà, ngoài trời, bia

Nội dung do AI tạo ra có thể không chính xác.

Text Box: Hình 3: Gian thờ tự trong gia đình mẹ Thứ

Cuộc đời mẹ Nguyễn Thị Thứ khép lại, nhưng ánh sáng từ sự hy sinh ấy vẫn còn lan tỏa mãi trong tâm thức dân tộc. Mẹ không chỉ là người đã tiễn mười hai người thân yêu ra chiến trường, mà còn là biểu tượng của lòng yêu nước bền bỉ, của đức hy sinh thầm lặng mà vĩ đại. Hòa bình hôm nay không tự nhiên mà có; đó là kết tinh của nước mắt, máu và niềm tin sắt son như niềm tin của mẹ vào ngày toàn thắng.

Tri ân mẹ không chỉ bằng những nén hương tưởng niệm, mà bằng cách sống xứng đáng hơn mỗi ngày: trân trọng độc lập, giữ gìn chủ quyền, học tập và cống hiến bằng tất cả trách nhiệm và trái tim. Khi mỗi người biết tự hỏi mình đã làm gì cho Tổ quốc, ấy là khi ngọn lửa mà mẹ thắp lên vẫn còn cháy sáng. Và chừng nào đất nước còn bình yên, chừng đó hình bóng mẹ vẫn lặng lẽ mỉm cười giữa trời Việt Nam độc lập.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn