Trước đây, khi gia đình gặp khó khăn, nếu vợ con tôi đã đôi lần trách cứ dù rất mơ hồ, tôi thường giải thích, dù sao tôi vẫn còn hạnh phúc hơn hàng vạn người khác. Bởi trải qua cuộc chiến tranh khốc liệt dài đằng đẵng, tôi vẫn còn nguyên vẹn trở về, rồi có vợ, có con, tạo dựng được cơ ngơi, tuy khiêm tốn nhưng cũng tạm gọi là ổn định. Dần dà vợ tôi cũng hiểu và chia sẻ cùng tôi. Không thỏa mãn với cuộc sống khiêm tốn hiện tại, nhưng tôi bằng lòng với công việc mình đã làm. Tôi thường tự nhủ: Cái mà ta giữ được cho lòng mình tự hào, giữ được chất "Người" ngoài tình cảm gia đình, chính là tình đồng đội. Đó là tình cảm cao cả và thiêng liêng nhất. Và những kỷ niệm vui buồn của một thời chinh chiến thường trở lại trong tôi, nhất là khi trái nắng trở trời.
Đường 19 tháng 4 năm 1972.
Trong khi sư đoàn (thiếu trung đoàn 12) nổ súng cùng các lực lượng địa phương giải phóng ba huyện Phù Mỹ, Hoài Ân, Hoài Nhơn (bắc Bình Định), thì trung đoàn 12 (thiếu một tiểu đoàn) đang được lệnh đóng chốt cắt đường 19, đoạn từ Bình Định đi An Khê, nhằm khống chế dài ngày sự cơ động của địch từ đồng bằng ven biển lên Tây Nguyên. Và ngược lại không cho các lực lượng của chúng từ các tỉnh Tây nguyên xuống đồng bằng ứng cứu.
Đoạn đường trung đoàn phải chốt giữ dài mười lăm kilômét, đoạn giữa quận lỵ Phú Phong (Bình Định) và căn cứ An Khê (Gia Lai). Khác hẳn với các chiến dịch trước đây, vùng hoạt động của trung đoàn hầu như là một vành đai trắng, không làng mạc, không dân cư, chỉ còn rất ít cán bộ địa phương và đồng bào dân tộc ẩn sâu trong rừng rậm.
Cụm chốt chính của trung đoàn là hai điểm cao 638, 384 và khu vực cống Hang Dơi nằm trên mặt đường 19. Ba điểm nói trên tạo thành một bức tường thép chắn ngang đường 19. Đại đội 62, tiểu đoàn 6 chúng tôi được giao nhiệm vụ giữ điểm cao 384.
Đêm 9 tháng 4 năm 1972, trung đội 1 lên chốt đào công sự. Ngoài đại đội trưởng Đồng Văn Soạn, trực tiếp chỉ huy, trung đội gồm: Một trung đội trưởng, hai trung đội phó, một y tá, ba tiểu đội trưởng và bốn chiến sĩ. Tất cả chỉ có vậy, 12 người, kể cả đại đội trưởng. Vũ khí trên chốt có một khẩu B40, một khẩu B41, một trung liên, còn lại toàn tiểu liên và lựu đạn, thủ pháo.
Không hiểu bị lộ hay có sẵn trong kế hoạch của địch, mà đêm mồng 9 lên chốt thì chiều mùng 10 địch bắt đầu đánh phá. Mở đầu các cuộc oanh tạc là pháo tầm xa ngoài hạm tàu (pháo biển), sau đến pháo trên đất liền và máy bay. Có lúc chúng phối hợp đánh dồn dập, lúc lần lượt thay nhau "giã gạo". Anh em trên chốt chỉ còn biết lấy tay bịt nòng súng, ôm súng vào lòng và chui vào những căn hầm đang đào dở. Ngớt bom, pháo anh em lại động viên nhau tiếp tục đào công sự. Cán bộ chẳng cần nhiều lời, chúng tôi cũng biết lúc này cần phải làm gì, nghĩa là ráng sức làm thật tốt cái "áo giáp" dưới lòng đất.
Sáng ngày 11. Qua một buổi chiều và một đêm bị bắn phá, trên đỉnh chốt và cả khu vực rộng hàng vạn mét vuông không còn một ngọn cỏ nguyên vẹn. Đất từ màu vàng chuyển sang màu đen. Chỗ nào cũng phả lên mùi khét đắng của thuốc súng. Lần đầu tiên trong đời, cánh lính mới chúng tôi được biết thế nào là "pháo bầy", "pháo chụp", là "bom chùm"... Và cùng lần đầu tiên trong đời được chứng kiến những cựu binh từng trải đã gan dạ và mưu trí thế nào. Chính tư thế vững vàng, bình tĩnh của các anh đã cỗ vũ chúng tôi. Tôi luôn nhận được những lời động viên chân tình, pha chút hài hước: "Cứ bình tĩnh, đâu khắc có đó", hoặc "Việc nó, nó bắn, việc mình, mình làm. Nó bắn chưa chắc đã trúng, trúng chưa chắc đã chết",.v.v.. Các anh còn kể cho chúng tôi nghe những mẫu chuyện "tiếu lâm". Đầu óc chúng tôi đang rất căng thẳng nhưng cũng phải bật cười. Những tiếng cười hiếm hoi, ngắn ngủi nhưng cũng làm dịu đi phần nào sự mệt mỏi.Qua ngày đầu tiên dội bom pháo, trung đội tôi đã hao hụt đi hai người. Bình y tá và Hiển. Ai đã từng trải qua những trận đánh giữ chốt dai dẳng, độc lập, không có lực lượng chi viện trực tiếp, không có hỏa lực khống chế hỏa lực địch từ xa... mới thông cảm được công việc khó khăn, ác liệt của chúng tôi trong suốt mười ngày đêm ấy. Mười ngày đêm trên chốt là khoảng thời gian không có ngày, không có đêm, không có giờ giấc. Đêm đến, anh nuôi phải cõng cơm bươn qua làn đạn pháo mới lên được chốt. Nhiều lần mang được cơm lên nhưng không có nước uống. Các can, bi đông đựng nước đã bị đạn pháo xăm thùng dọc đường. Một vài anh nuôi quân cũng bị thương vong ngay trên đường mang cơm cho chúng tôi. Nghĩa là có rất nhiều lý do để hạn chế ăn uống. Vì vậy, cơm thì có nhưng chẳng ai ăn hết nửa nắm. Mỗi lần ăn, chốt trưởng thường động viện chúng tôi: "Muốn đánh được thì phải ăn, có ăn mới đánh được". Mọi người cũng biết rất rõ, chiến dịch còn dài, không có sức khỏe không trụ được trên chốt.
Ngày này qua ngày khác, nắng, mưa, bom, pháo bộ binh địch, khát nước, buồn ngủ, mệt mỏi v.v... đã làm chúng tôi yếu dần. Nhưng tuyệt nhiên không ai báo cáo xin lui về phía sau. Đôi lúc anh Soạn, đại đội trưởng và anh Liễu, trung đội trưởng nói vui "không anh nào được chết, chết là vi phạm kỷ luật", rồi tất cả nhìn nhau cười xòa.
Ác liệt cứ tăng dần lên. Tăng dần về cường độ và quy mô tấn công của địch. Ngày đầu, chúng tổ chức xung phong lên chốt từ một đến hai lần, sau đó tăng lên ba đến bốn lần, có ngày chúng tôi phải chống đỡ liên tục suốt từ sáng đến chiều tối. Địch muốn tổ chức đánh liên miên, dai dẳng hòng gây căng thẳng cho anh em chúng tôi mệt mỏi, không chịu nổi phải bỏ chốt. Nhưng mọi thủ đoạn của chúng đều thất bại. Mỗi lần tấn công lên chốt, là mỗi lần chúng phải kéo xác nhau trở lại với những tiếng hò hét, kêu man dại.
Điểm cao 384 vẫn đứng vững. Chúng tôi, một tập thể nhỏ bé của trung đoàn 12 đã nổ súng đánh lui quân địch không biết bao nhiêu lần. Một hôm, những tên địch lực lưỡng không tổ chức tấn công như thường lệ mà với vẻ mặt sát khí đằng đằng, miệng gậm dao găm, tay cầm lựu đạn, bò, lết, chia nhỏ, lẻ bám dần lên đỉnh chốt. Nghe nói tiểu đoàn Nam Triều Tiên này mới đổi đến rất giỏi võ Karate, nên chúng muốn đánh theo kiểu đặc công với ta. Rốt cuộc, đội quân "hùng dũng" này cũng bị lựu đạn, B40 và những loạt súng xuyên táo của chúng tôi hất ngược trở xuống.
Nhớ lại những trận đánh giáp lá cà ác liệt, những hy sinh vô cùng anh dũng của đồng đội trên điểm cao 384, tôi càng thấy lòng se lại vì nhớ, vì thương và vì bao nhiêu nỗi dằn vặt khác... Tôi không thể nhớ cũng không thể kể lại chính xác từng đợt tiến công của địch lên chốt bị bẻ gây như thế nào. Tuy chỉ có thể kể lại được một phần rất nhỏ, nhưng đối với tôi đó là những kỷ niệm thật sâu đậm.
Mỗi ngày địch xung phong lên chốt ba, bốn lần. Có ngày chúng hợp đồng với máy bay lên thẳng bắn rốc két và bắn cả đạn giấy ngay trên đầu, rồi đổ quân xuống bên cạnh chốt, hòng trên đánh xuống, dưới đánh lên hất chúng tôi khỏi cao điểm. Cũng có lần chúng dùng các loại súng máy từ điểm cao bên cạnh bắn quét mạnh cho bộ binh áp sát và xung phong lên. Với sự chỉ huy dày dạn của đại đội trưởng Đồng Văn Soạn và trung đội trưởng Nguyễn Tiến Liễu, chúng tôi lần lượt đánh lui quân địch. Hơn lúc nào hết, trung đội chúng tôi được kết thành một khối vững chắc. Tổ này bị uy hiếp, tổ kia chi viện ngay. Cán bộ chỉ cần ra hiệu là chiên sĩ đã biết mình phải làm gì rồi. Khẩu B40 trong tay Kiều Minh Toán đã gây khủng khiếp cho không ít địch.
Toán và một chiến sĩ nữa được bổ sung lên chốt vào ngày thứ bảy. Nhưng đến nửa đường, chiến sĩ kia quay trở lại. Một mình Kiều Minh Toán vác khẩu B41 lên chốt với chúng tôi. Chúng tôi ôm lấy Toán sung sướng. Vì ai cũng biết rằng trong tình trạng rất gay cấn này, có thêm một người, một cây hỏa lực trên chốt, giá trị biết nhường nào. Cùng ngày Toán lên chốt, trung đội hụt đi 2 người nữa. Đó là Nông Văn Thu và Nguyễn Văn Du. Nông Văn Thu người dân tộc Tày (Bắc Thái), có sức khỏe và nhanh như hổ trong rừng. Lúc bình thường, Thu nhận làm mọi việc nặng nhọc thay đồng đội. Khi nổ súng anh dũng cảm mưu trí lạ thường. Lựu đạn của anh vừa ném hướng này, anh đã lẫn sang bắn quét định ở hướng khác. Nhiều lần phát hiện được Thu, nhưng đại liên và lựu đạn địch không đuổi kịp anh. Anh có một đặc điểm mà cả đại đội ai cũng biết, hễ nổ súng anh hét to: "Giết chết chúng nó đi". Trước khi hy sinh anh nói với tôi: "Đánh nhau phải biết chết vớ". Tôi hiểu ngôn ngữ dân tộc anh có nghĩa: Biết chấp nhận hy sinh để tạo ra lòng dũng cảm. Còn Nguyễn Văn Du, cây xạ thủ trung liên của chốt. Anh phụ trách chặn địch ở một hướng quan trọng. Anh đã làm cho địch đổ nhào, đè lên nhau mà chạy không biết bao nhiêu lần. Nhiêu lúc nhìn anh bắn tôi vô cùng cảm phục. Người Du gày tọp đi, râu tóc bờm xờm dính bết bụi đất và thuốc súng, đôi mắt thâm quầng, trũng sâu vì mất ngủ... Nhưng tất cả mọi khó khăn đã không hề làm giảm độ chính xác đường đạn của anh. Trong lúc trung đội trưởng điều động tôi và Du sang chi viện cho tổ bên cạnh, Du đã trúng một quả lực đạn của địch. Anh hy sinh ngay trên miệng hầm, hai tay còn ôm ghì cây trung liên đã bị gãy nòng. Thời gian trên chốt kéo dài đằng đẵng. Sáng thì mong trưa, trưa thì mong chiều, chiều lại mong cho chóng tối. Mỗi ngày trôi qua, chốt chúng tôi lại vắng một, hai người. Lực lượng chi viện của trung đoàn cũng không còn, vì còn phải rải quân tăng cường cho nhiều điểm chốt khác trên chiều dài mười lăm ki-lô-mét.
Ngày thứ tám, đại đội trưởng có lệnh về họp ở tiểu đoàn. Anh Liễu, trung đội trưởng, tổ trưởng tổ đảng trực tiếp chỉ huy. Với danh nghĩa trung đội nhưng thực tế chỉ còn bốn người.
Quân số giảm, sức khỏe giảm, hầm hố bị bom, pháo đánh sập gần hết. Trong khi đó khối lượng công việc trên chốt không hề bớt đi. Trước đây, mỗi hướng có hai, ba người thay nay chỉ còn một người đảm nhiệm. Trước đây đánh lui một đợt tiến công của địch đơn giản bao nhiêu thì lúc này khó khăn, phức tạp bấy nhiêu. Chỉ còn một thứ vũ khí lợi hại khiến chúng tôi giữ vững được trân địa đó là "tinh thần". Chính sự hy sinh của đồng đội trước mắt hoặc ngay trên bàn tay mình đã tăng thêm sức mạnh cho chúng tôi. Mỗi lần vuốt mắt cho một người, tôi lại khóc và tự hứa: Nhất định tôi sẽ chiến đấu xứng đáng để trả thù cho các anh.
Đường 19 vẫn bị trung đoàn chúng tôi khống chế, nhưng một số đoạn địch đã qua lại được. Tuy vậy, nếu địch muốn thông thoát hoàn toàn con đường, nhất thiết phải nhổ bật tất cả các chốt điểm của ta ở phía nam đường, trong đó có trận địa chúng tôi. Vào những lúc yên ắng giữa hai đợt tiến công của địch, chúng tôi nhìn xuống đường 19, nhìn sang chốt cây rui. Bên ấy tiếng súng vẫn còn vang rền không ngớt. Xác xe, xác máy bay lên thẳng cháy trụi vẫn còn nằm chỏng trơ, rải rác trên mặt đường. Chính điều đó đã cổ vũ chúng tôi. Chốt bạn vẫn còn, chúng tôi không đơn đọc.
Đúng như nhận định của cấp trên: Bị cắt đường 19, địch sẽ phản ứng điên cuồng như con ác thú bị siết mạnh vào yết hầu. Chúng quyết tâm khai thông đường càng nhanh càng tốt. Còn chúng tôi thì được lệnh giữ chốt bằng mọi giá.
Điểm cao 384 chỉ còn lại bốn người: Liễu, trung đội trưởng, tổ trưởng tổ Đảng,; Toán xạ thủ B41; Thực, chiến sĩ và tôi. Thời gian biểu của chúng tôi là: Địch lên đánh; bom, pháo oanh tạc, vào hầm ngủ. Một người thức cảnh giới cho 3 người ngủ. Anh Liễu thường nói với chúng tôi: "Chắng may trúng đạn thì thôi, còn sống đứa nào phải đánh đến cùng, đánh cho bọn chó đẻ khiếp vía". Với riêng tôi, anh nhận xét: "Cậu đánh khá, không kém cánh lính cũ". Tôi mừng, vì mới trải qua có một tuần lễ mà bản lĩnh chiến đấu của mình đã được anh đánh giá như vậy. Tôi còn nhớ rất rõ trong buổi họp cuối cùng của bốn anh em, anh Liễu nói giọng chắc nịch: Bốn anh em chúng mình đều có chung một mái nhà, đó là điểm cao 384, bằng bất kỳ giá nào cũng phải giữ nó". Anh hạ thấp giọng hơn, như anh dặn dò các em: "Dù hôm nay hay ngày mai, ngày kia anh em mình phải hy sinh, cũng chẳng có gì phải ân hận. Đây là ranh giới giữa vàng và thau..." Lời anh lúc đó sao mạnh mẽ đến thế. Cho tới tận bây giờ, hơn hai mươi năm trôi qua, mỗi lần nhớ lại, lòng tôi vẫn trào lên niềm cảm phục và nhớ thương anh da diết.
Ngày 18 tháng 4 năm 1972. Sau khi thăm dò, trinh sát bằng cả trên không và trên mặt đất, ba giờ chiều địch tổ chức một đợt tấn công mới, với quy mô lớn hơn và tính chất cũng quyết liệt cũng cao hơn mọi lần. Lúc này Đoàn Văn Thực đã bị thương, trận địa còn ba tay súng. Ba người phải chống chọi với hàng trăm tên địch có đầy đủ hỏa lực chi viện, quả là công việc vô cùng nặng nề với chúng tôi. Địch chia từng tốp xung phong lên chốt theo kiểu sâu đo. Không kịp lắp đạn vào băng, tôi phải khoác trên mình ba khẩu súng. Lúc ấy không hiểu sao lại khỏe như vậy. Nhìn sang bên cạnh, anh Liễu và Toán cũng đang trong tư thế như tôi: Anh nào cũng khệ nệ ba, bốn khẩu súng vừa khoác vai, vừa cầm tay. Ngoài ra còn có những dây lựu đạn treo trên cổ, thắt ngang hông như ngựa thồ. Trận đánh không có thời gian ngừng lại. Bắn hết bằng đạn này, tôi trở đầu bắn sang băng đạn thứ hai. Hết đạn, quẳng súng xuống chân, lấy khẩu súng khác tiếp tục bắn. Tôi học tập các anh cũ, bắn quét mạnh làm cho định nhảy xuống hố bom, rồi chồm lên ném lựu đạn vào đó. Cách này rất hiệu quả nhưng quân địch lại quá đông, lại thay nhau cuốn lên ở cả ba hướng, làm cho chốt có nguy cơ bị mất. Giữa lúc ấy anh Liễu ra hiệu phản xung phong. Tôi hiểu ý anh, tuy chỉ có ba người nhưng nếu biết vận dụng cách đánh, sử dụng vũ khí hiệu quả thì ít cũng thành nhiều, sức mạnh sẽ tăng lên gấp bội, địch không thể biết chính xác được lực lượng của ta. Chờ cho một toán địch đến gần, anh Liễu bỗng đứng phắt dậy bắn quét mạnh vào chúng. Tôi và Toán ở hai bên cũng đồng loạt làm như anh. Quân địch bị đánh bất ngờ, vội lăn xuống hố pháo, hố bom, miệng kêu rú thảm thiết. Đúng với ý định của mình, Toán dùng B41 chúc nòng bắn xuống nơi địch đang nằm. Tôi và anh Liễu ném từng quả lựu đạn bồi thêm. Bụi đất, khói đạn, mũ sắt, mảnh quần áo từ các hố bom bay lên tơi tả. Nhưng cũng thời điểm ấy, một khẩu đại liên dưới yên ngựa bắn quét trả lại chúng tôi vô cùng dữ dội. Anh Liễu trúng đạn gục xuống. Tôi và Kiều Minh Toán phải lùi lại công sự.
Đợt tấn công của địch bị đẩy lùi. Chốt hụt đi một người nữa. Tôi và Toán nhìn nhau im lặng... nhưng đều có chung một ý nghĩ: Hãy yên tâm người còn, chốt còn.
Trời chưa tối hẳn, tôi bắn súng làm hiệu báo tin chốt vẫn còn, nhưng phải cấp cứu ngay. Nhận được tín hiệu, đại đội trưởng Soạn không kịp đợi trời tối, đang ở tổ thông tin dưới chân đồi, đã vượt qua tầm đạn địch lên chốt ngay. Nhưng chỉ mười lăm phút sau, anh đã hy sinh trong một đợt tấn công của địch lên chốt. Vậy là trên điểm cao 384 vẫn chỉ còn hai người. Tôi và Kiều Minh Toán. Không khí nặng nề, căng thẳng đến tột độ. Toán bặm môi, vằn mắt nhìn tôi và chỉ về phía địch thét: "Phải giết chết bọn chó kia đi". Lúc này không thể nói gì với Toán để anh hiểu lòng tôi. Vì bắn quá nhiều B41, Toán đã bị điếc. Thông thường một xạ thủ B41 chỉ bắn ba quả liên tục đã bị ù tai. Đằng này Toán đã bắn hàng chục quả. Toán vỗ vai tôi: "Bình tĩnh nhá, tao còn, mày còn. Bọn chó đẻ không dễ dàng làm được gì đâu". Tôi chỉ biết gật đầu và mỉm cười, nắm chặt tay anh.
Mặt trời sắp lặn, dải núi hùng vĩ phía nam đường 19 hừng lên một màu vàng dịu. Gió biển từng đợt thổi lên, tạm thời xua đi nối mệt nhọc, căng thẳng trong suốt một ngày nổ súng. Tôi bỗng mơ ước có một đêm hay một ngày trận địa yên tĩnh để cho lá phổi chứa đầy khói đạn được thở không khí trong lành. Nhưng sự mất mát trời cho ấy thật ngắn ngủi. Địch tiếp tục tấn công. Lúc này Thực tuy bị thương khá nặng, nhưng không chịu nằm trong hầm đã bò ra cầm súng và lựu đạn xin chặn địch ở một hướng.
Trời chạng vạng tối, quân địch vẫn tiêp tục bò lên. Hàng chục tên bị chúng tôi bắn tỉa, lăn xuống dốc. Nhưng chúng tôi cũng đã quá mệt mỏi. Nhiều lúc đầu óc chếnh choáng, tay chân rã rời muốn quỵ xuống. Bên cạnh tôi, Toán bắn B41 hết quả này đến quả khác. Máu tươi rỉ ra hai bên lỗ tai, nhỏ xuống vai nhưng Toán không để ý. Có lẽ lúc này anh đã bị điếc hoàn toàn. Anh liên tiếp ra lệnh cho tôi: "Minh, bóc liều phóng cho tao", "Minh, đưa đạn đây! nhanh lên". "Minh...". Bắn xong quả đạn ấy Toán nhận trọn một quả lựu đạn của địch vừa tung lên. Anh hy sinh. Còn mình tôi, sau khi bắn hết băng đạn cuối cùng, người bỗng thấy lâng lâng. Tôi thiếp đi lúc nào không biết.
Khi tôi tỉnh lại thì trời đã tối hắn. Toàn khu vực cao điểm và khu thung lũng dưới đường 19 trở thành một màu đen thẫm. Quân địch đã tràn lên chốt. Điểm cao 384, mái nhà thân yêu của trung đội đã rơi vào tay địch. Đau đơn, uất ức, nhưng tôi biết làm gì khi chỉ còn một mình, dở thương, dở lành, súng đạn không còn, chung quanh là quân địch? Lợi dụng vào những xác chết, tôi bò xuống tổ thông tin. Xuống đến đây tôi mới biết trước đó trung đoàn đã điện xuống cho chúng tôi rút lui. Vậy là chỉ có một mình tôi rời khỏi trận địa. Tám đồng đội của tôi đã vĩnh viễn nằm lại trên điểm cao 384 bên cạnh đường 19.
Từ đó, tôi đã mang nặng lòng căm thù quân thù và tình yêu thương đồng đội vào các chiến dịch ở Gia Lai, Bình Định và nhều nơi khác trên chiến trường miền Nam. Tôi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, được thưởng nhiều huân chương nhưng vẫn luôn cảm thấy chưa trả được mối thù cho các anh trong trung đội. Tôi như thấy mình còn mang nợ các anh, một món nợ không thể tính bằng vật chất.
Qua bài viết này, tôi có một ước muốn, nếu có điều kiện, sư đoàn với địa phương hãy dựng trên điểm cao 384 một bia kỷ niệm ghi tên tuổi tám liệt sĩ vào đó. Như vậy, thế hệ mai sau vẫn còn thấy sự hy sinh anh dũng của các anh. Các anh không cô đơn, lạnh lẽo. Các anh được sống mãi trong lòng đất nước.
Cho đến hôm nay, được sống hạnh phúc bên vợ, con, bè bạn, tôi vẫn không sao nguôi được kỷ niệm về đồng đội, về chiến tranh, về điểm cao 384. Và có lẽ những kỷ niệm ấy sẽ còn nguyên vẹn trong tôi không phải mười năm, hai chục năm.. mà nó còn theo tôi mãi mãi... |