KỶ NIỆM TẠI LONG CHÂU SA – NHỮNG NGÀY TẬP KẾT CHUYỂN QUÂN 1954
Tôi sanh năm 1932, tại xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, nhà chỉ có mình tôi là con trai. Tôi tự hào vì quê hương mình là vùng cách mạng, mảnh đất sanh ra toàn tướng.
Năm 1954, chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội, góp phần đưa đến sự ra đời của Hiệp định Genève về việc lập lại hòa bình ở Đông Dương. Hiệp định đình chiến ở Việt Nam quy định ngừng bắn tại Nam Bộ ngày 11 tháng 8 năm 1954. Thời gian này, đơn vị tôi đóng quân ở rừng Bời Lời, Tây Ninh. Được lệnh hành quân đi tập kết xuống Long Châu Sa (nay là Đồng Tháp), trước khi đi, cấp trên giao mỗi người mang theo 10 lít gạo và 01 bó củi, chiếc đai khoảng bốn tấc, ngang 5 tấc, vì đoán trước vùng dưới mùa nước nổi khó kiếm củi đốt. Anh em chuẩn bị hành quân, không có ba lô nên phần lớn chúng tôi phải lấy võng xếp đôi cuốn quần áo mang lên vai, củi gạo cũng đeo luôn.
Đơn vị hành quân xuống Bàu Trai, Đức Hòa, Long An, đoạn nào đi bộ được thì đi bộ, đoạn nào không đi bộ được thì có dân đi xuồng đón, đi dọc sông Vàm Cỏ Tây, qua nhiều kênh rạch lớn nhỏ, nhưng lâu quá rồi nên không nhớ hết. Trên đường đi dọc theo các bờ kênh rạch, cây ô môi nở bông tím rất đẹp, đang là mùa nước nổi nên bông điên điển vàng ươm nhiều vô kể. Chúng tôi vừa hành quân, vừa tranh thủ hái để khi dừng chân nấu ăn, nhưng tốc độ hành quân khẩn trương cả ngày trời, người nào người nấy đói bụng nên không cần nấu chín, anh em rửa sạch rồi quất luôn. Bông điên điển ăn với cá linh kho lạt thì thật là tuyệt. Cái vị bùi bùi, ngọt ngọt của bông điên điển khiến tôi không sao quên được, lại càng da diết nhớ về Cao Lãnh, nhớ về miền Nam những năm trên đất Bắc. Quê tôi, ở vùng bưng biền cũng có bông điên điển nhưng không nhiều và phổ biến như ở Long Châu Sa. Nghe nói, bà con ở vùng này, cuối mùa điên điển thường chặt cây phơi khô dự trữ để làm củi nấu trong mùa mưa, rồi cây lại mọc lên xanh tốt và ra đầy hoa trong mùa nước nổi.
Xuống Đồng Tháp Mười mới thấy mùa mưa rất cực vì không có củi chụm. Anh em phải ra gỡ từng cái vỏ tràm khô để lót nấu cơm ăn. Nếu trời mưa, củi ẩm thì nấu cơm thật gian nan. Dân thì nhà nhỏ, họ trữ đủ củi nấu trong gia đình, còn bộ đội phần lớn tự lo, thỉnh thoảng bà con cũng hỗ trợ, có gia đình nấu cơm cho bộ đội. Có đi mới thấy, vùng này cực hơn trên miền Đông nhiều. Với địa hình miền Đông, bộ đội đào công sự cũng dễ dàng hơn, kiếm củi nấu ăn cũng thật đơn giản do có nhiều rừng già, hang động. Nhưng ở đây vào mùa nước ngập mấy tháng trời, muỗi thì kinh khủng, có hơi người là bay tới, cắn cá cục, cá cục. Nghe nói trong kháng chiến, anh em mình hoạt động trong đồng sâu, muỗi cắn đập không kịp phải lấy tay vuốt. Vậy mới thấy sức chịu đựng của anh em mình trong kháng chiến chống Pháp thật ghê gớm. Đánh giặc trong điều kiện hết sức khó khăn, muỗi mòng vây đốt, công sự không đảm bảo do đất mềm, ẩm ướt nhưng không vì vậy mà không có những chiến công vang dội.
Chúng tôi đi ban ngày mà té lên té xuống vì không quen đi cầu khỉ, có khi băng đại, lội đại qua kênh rạch chứ không đi trên cầu. Nhiều người té từ trên cầu xuống ướt hết trơn đồ, súng ống sinh không. Nghe nói cũng vì cầu khỉ mà bộ đội và bà con vùng sông nước đã nghĩ ra cách đánh dịch rất hay, địch cũng không quen qua cầu nên chúng đã lội xuống kênh rạch và trúng bẫy của ta, chết và bị thương hàng loạt. Trên đường hành quân xuống Cao Lãnh, chúng tôi đi ngang qua nhiều đồn bót giặc, chúng cũng cắm cờ xanh tượng trưng cho hòa bình, nhưng hầu hết chẳng thấy tên lính nào, mật vụ mật thám ở trong dân thì mình không biết.
Khi bộ đội hành quân, nhân dân đứng hai bên đường vẫy chào, nhưng thực chất họ xem Việt Minh như thế nào và biết con em mình đi nên họ ra dòm ngó, chỗ nào bộ đội đóng quân thì bà con khắp nơi kéo đến kiếm rẫm rắp cả ngày. Hành quân khoảng 10 ngày, chúng tôi đã tới Long Châu Sa. Tới Cao Lãnh, đi ngang qua mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy, người dẫn đường giới thiệu, đây là mộ người thân sinh Bác Hồ, anh em vô cùng xúc động. Sau đó, đơn vị được phổ biến đóng quân ở chợ, gần đình Doi Me. Tại đây, anh em trong đơn vị tham gia cắt tóc, tắm rửa cho các em thiếu nhi, ngày thường rảnh rỗi thì đi phát cỏ mương, cỏ vườn giúp dân, khi nước xuống thì hót bùn đắp bờ... Đây là công tác dân vận phổ biến của bộ đội mà hầu như đơn vị nào cũng thực hiện. Hồi đó, phong trào dạy trẻ em hát những bài ca cách mạng, kết đoàn sôi nổi lắm.
Dân Cao Lãnh chỗ đơn vị đóng quân thời điểm đó cũng còn nghèo, còn khó khăn nhưng dân ở thị trấn Cao Lãnh thì khá. Ổn định nơi đóng quân, anh em đơn vị thay phiên nhau nấu cơm, đi chợ, thỉnh thoảng mấy má cho cá linh, cá sặc, phần mình mua. Hàng ngày, mỗi buổi sáng, nghe dân thổi tù và, kéo lưới lên, anh em đi chợ đình Doi Me thấy vô số cá các loại như cá linh, cá lóc, cá sặc, cá chạch, cá rô... Dân tốt, biết bộ đội đối xử đàng hoàng, nên có cá ngon, rau xanh, trái cây dân đều đem cho bộ đội và thương quý bộ đội như con em mình. Có thể nói bà con Long Châu Sa thật tốt, họ chu đáo tiếp bộ đội và tiếp cả thân nhân của bộ đội, họ nhường nhà cho bộ đội ở, giúp đỡ bộ đội những gì có thể. Lúc này, người thân của anh em đi tập kết, đến Long Châu Sa chủ yếu là tìm con, em, anh vì hồi đó, bộ đội đa số trẻ nên ít người có vợ. Mấy đồng chí chỉ huy lớn tuổi có gia đình, còn hầu hết anh em tụi tôi mới trên dưới đôi mươi. Thời gian ở Cao Lãnh không lâu nhưng tôi cảm nhận được rõ tình đời, tình người Cao Lãnh và không khí trong những ngày tập kết chuyển quân năm 1954.
Được biết, trước đó địch tuyên truyền trong nhân dân, nói xấu về Việt Minh nhưng khi dân thấy bộ đội Việt Minh trắng trẻo, đẹp trai, súng ống mang đầy đủ, họ khen quá trời. Có trường hợp, gia đình kêu anh em ở lại, đừng đi, “biết đi ra ngoài hai năm có trở về hay không”. Còn tôi, những ngày tập kết tại Cao Lãnh, gia đình không tìm được, sau đó có người quen, biết tôi đi tập kết mới nói lại với má tôi. Sau này má kể, hồi chúng tôi đi tập kết, dịch ở trong này tuyên truyền bộ đội đi tập kết bị bão nên chết hết, làm cho dân hoang mang, khóc lóc, nhưng phải khóc lén vì sợ địch theo dõi trả thù. Lúc đó, má tưởng tôi đi tàu ra Bắc gặp bão chết như dịch tuyên truyền nên má khóc hết nước mắt.
Đơn vị tôi đóng quân khoảng 15 ngày tại Doi Me thì có lệnh phổ biến chuẩn bị xuống tàu. Trước khi xuống tàu cũng mang theo những thứ cần thiết như gạo, đường. Thời gian trôi qua cũng khá lâu, sáu mươi năm còn gì, tôi không nhớ rõ ngày nào nhưng khoảng tháng 10, vào lúc 5 giờ sáng, đơn vị hành quân ra bến bắc Cao Lãnh để xuống tàu ra Bắc. Khi tạm biệt gia đình, bà con Cao Lãnh, mấy mẹ, mấy chị khóc nhiều lắm và nhắn nhủ “các con ra ngoài đừng lấy vợ ngoài đó nha, mấy cô miền Nam chờ các con đó...”.
Ra Bắc cũng có nhiều đồng chí đóng đôi viết thư gửi về cho gia đình bằng nhiều cách khác nhau, riêng tôi không viết thư về vì sợ nếu bị lộ thì nguy hiểm cho người thân. Bước sang năm 1958, thực hiện chủ trương chỉnh quân, những người có sức khỏe ở lại làm chủ lực, số còn lại đi xây dựng nông trường. Năm 1960, tôi được điều động qua Bộ Công an, học ở Hà Đông xong về công tác tại Công an Hà Nội với nhiệm vụ nắm tin tức, tình hình dịch, quản lý theo giáo phái... Hồi đó nguỵ quân, nguỵ quyền ở lại ngoài đó cũng đông lắm. Đến năm 1963, tôi được lệnh về Nam chiến đấu và công tác tại An ninh T4 (Khu uỷ Sài Gòn - Chợ Lớn). Sau một năm công tác, tôi móc nối được với gia đình và mãi đến lúc này má mới biết tôi còn sống. Tôi nhắn má vô, hai mẹ con gặp nhau sau gần mười năm xa cách, những giọt nước mắt không ngừng lăn trên gương mặt nhăn nheo của tuổi già, gặp tôi bà sờ từ trên xuống dưới, nắn nót, rồi ôm, siết chặt lấy tôi... Nhìn bà mừng mừng, tủi tủi, nhưng mắt bà ánh lên niềm hạnh phúc không sao tả được.
Sáu mươi năm đã trôi qua, nhưng những kỷ niệm về Long Châu Sa, về Cao Lãnh vẫn sâu đậm trong tôi. Chỉ tiếc rằng, trải qua nhiều thử thách trong chiến tranh và kinh qua nhiều lĩnh vực trong thời bình, giờ sức khỏe giảm sút nên có rất nhiều những điều ấn tượng trong thời gian tập kết tại Cao Lãnh không nhớ được trọn vẹn.


