Anh hùng Lao động

Kỹ sư Võ Quí Huân – Người trí thức nặng tình non nước

Từ bỏ cuộc sống ổn định tại Pháp, kỹ sư Võ Quí Huân trở về Tổ quốc theo tiếng gọi của non sông, đem kiến thức và tài năng phục vụ kháng chiến, đặt những nền móng quan trọng cho ngành đúc – luyện kim Việt Nam.

TP. Hồ Chí Minh10/08/2026Đoàn xã Bảo Lâm 1 (Bảo Lâm 1)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Kỹ sư Võ Quí Huân – Người trí thức nặng tình non nước

Kỹ sư Võ Quí Huân – Người trí thức nặng tình non nước

Cuộc đời kỹ sư Võ Quí Huân là câu chuyện đẹp về một trí thức đặt vận mệnh dân tộc lên trên cuộc sống riêng. Sinh ngày 7-11-1912 tại Thanh Chương, Nghệ An, ông lớn lên trong một gia đình có truyền thống cách mạng. Những năm thiếu niên, chứng kiến cảnh nhân dân yêu nước bị thực dân Pháp đàn áp, trong ông sớm hình thành lòng căm thù giặc và khát vọng học tập để sau này góp sức xây dựng quê hương.

Năm 19 tuổi, Võ Quí Huân ra Hà Nội học tập với quyết tâm phải có kiến thức để phụng sự đất nước. Trở về Vinh, ông tham gia làm báo Đông Dương, vừa làm chủ nhiệm, phóng viên, vừa phụ trách thư ký tòa soạn. Do nội dung tiến bộ, đấu tranh chống thực dân, phong kiến, tờ báo bị mật thám theo dõi và buộc phải đình bản. Để tránh sự truy bắt, ông sang Pháp tiếp tục học tập và làm việc.

Năm 1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp, Võ Quí Huân cùng các trí thức Việt kiều yêu nước được mời trở về nước chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Dù khi ấy đã có gia đình với người vợ là một tiến sĩ ngôn ngữ người Pháp gốc Nga và con gái mới 2 tuổi, ông vẫn quyết định rời cuộc sống bình yên nơi đất khách để trở về. Sự lựa chọn ấy thể hiện tình cảm sâu nặng của một người con đối với Tổ quốc.

Về nước, kỹ sư Võ Quí Huân đảm nhiệm nhiều trọng trách trong lĩnh vực kinh tế, kỹ nghệ và đào tạo cán bộ. Trong hoàn cảnh kháng chiến thiếu thốn đủ bề, ông tổ chức di chuyển hàng nghìn tấn máy móc, thiết bị lên chiến khu, xây dựng các cơ sở sản xuất phân tán, khai thác nguyên liệu và đào tạo đội ngũ kỹ thuật phục vụ kháng chiến.

Tại xưởng kim khí kháng chiến, ông cùng đồng nghiệp nghiên cứu sản xuất gang từ quặng sắt trong nước. Ngày 15-11-1948, tại rừng Cầu Đất, Con Cuông, Nghệ An, lò cao đầu tiên đã nấu thành công mẻ gang đầu tiên của cuộc kháng chiến. Từ mẻ gang ấy, dưới sự chỉ đạo của ông, các cán bộ, công nhân còn đúc tượng bán thân Chủ tịch Hồ Chí Minh để triển lãm tại Liên khu 4 năm 1949 rồi gửi ra Việt Bắc báo cáo với Bác.

Thành công bước đầu mở ra hướng phát triển mới. Các lò luyện gang tiếp tục được nghiên cứu, xây dựng và di chuyển qua nhiều địa điểm như Cầu Đất, Cát Văn rồi Như Xuân để bảo đảm an toàn trước sự đánh phá của quân Pháp. Mỗi lần phải dựng lại, kỹ sư Võ Quí Huân cùng đồng nghiệp lại cải tiến thiết kế, nâng công suất và nâng cao chất lượng gang.

Cuối năm 1950, trước yêu cầu sản xuất vũ khí, ông được điều lên Việt Bắc tham gia nghiên cứu luyện thép bằng lò điện. Trong điều kiện gần như không có vật liệu, gạch chịu lửa hay nguyên liệu chuyên dụng, ông cùng đồng nghiệp phải tự tìm tòi, thử nghiệm từng giải pháp kỹ thuật.

Sau nhiều lần nghiên cứu, tháng 10-1951, lò luyện thép thí nghiệm đầu tiên được hoàn thành và cho chạy thử. Sau khoảng hai giờ, thép nóng chảy thành công và đủ để đúc một chiếc cuốc chim. Đây là mẻ thép đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đánh dấu bước tiến quan trọng của ngành luyện kim nước nhà.

Tháng 11-1951, dựa trên kết quả thử nghiệm, Võ Quí Huân cùng các đồng nghiệp tiếp tục thiết kế lò thép lớn tại Bản Thi, Chợ Đồn, Bắc Kạn, phối hợp với Binh công xưởng H52 đưa vào sản xuất. Gang, thép làm ra đã góp phần cung cấp nguyên liệu để sản xuất vũ khí, quân cụ phục vụ chiến trường, từ đó hỗ trợ thiết thực cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Sau ngày miền Bắc được giải phóng, ông tiếp tục dành tâm huyết cho sự nghiệp giáo dục và phát triển công nghiệp. Ông từng giữ chức Hiệu trưởng Trường Kỹ nghệ Thực hành Hà Nội, tổ trưởng Tổ Đúc-Luyện kim thuộc Ủy ban Khoa học Nhà nước, đồng thời tích cực vận động thành lập Hội Đúc-Luyện kim Việt Nam và từ năm 1966 giữ cương vị Phó hội trưởng.

Từ một trí thức được đào tạo ở nước ngoài đến người đặt nền móng cho ngành đúc-luyện kim Việt Nam, Võ Quí Huân đã dành trọn tài năng, trí tuệ và tâm huyết cho đất nước. Những mẻ gang, mẻ thép đầu tiên không chỉ mang ý nghĩa về mặt kỹ thuật mà còn thể hiện ý chí tự lực, tự cường của một dân tộc trong những năm tháng gian khổ.

Cuộc đời ông là minh chứng rằng tri thức chỉ thực sự có ý nghĩa lớn lao khi được đặt vào sự nghiệp chung của dân tộc. Lựa chọn trở về giữa lúc cuộc sống riêng đang êm ấm, rồi lăn lộn giữa chiến khu để nghiên cứu, sản xuất và đào tạo nhân lực, kỹ sư Võ Quí Huân đã để lại một di sản quý giá cho ngành công nghiệp Việt Nam và một tấm gương sáng về tinh thần phụng sự Tổ quốc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Kỹ sư Võ Quí Huân – Người trí thức nặng tình non nước | Câu chuyện thời hoa lửa