Cựu chiến binh

Kỳ Thu – “Trận chiến” không tiếng súng sau ngày Điện Biên toàn thắng

Chiều 7/5/1954, khi tiếng súng vừa ngừng, ông Kỳ Thu được giao tiếp nhận hơn một vạn hàng binh Pháp tại Điện Biên Phủ. Trong hoàn cảnh vô cùng thiếu thốn, ông và đồng đội vừa tổ chức quản lý, vừa cứu chữa thương binh, thể hiện chính sách khoan hồng và phẩm chất nhân đạo của Bộ đội Cụ Hồ.

Nghệ An22/08/2026Chi Đoàn trường TH&THCS Nguyễn Du (Tuy Đức)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chiều 7/5/1954, mặt trời dần khuất sau những dãy núi phía tây lòng chảo Điện Biên. Lá cờ chiến thắng đã tung bay trên nóc hầm tướng De Castries, nhưng dưới chân dãy Him Lam, những đoàn hàng binh Pháp vẫn từ các hầm ngầm nối nhau đi ra.

Đứng trên một gò đất, ông Kỳ Thu nhìn dòng người kéo dài tưởng như không bao giờ dứt. Người chiến sĩ trẻ hiểu rằng một trận đánh vừa kết thúc, nhưng trước mắt ông lại bắt đầu một “trận chiến” mới: tiếp nhận, phân loại, nuôi dưỡng và cứu chữa hơn một vạn con người vừa buông súng.

Kỳ Thu tên thật là Nguyễn Hữu Đông, sinh năm 1927, vốn là một học sinh trung học ở Hà Nội. Năm 1947, khi tròn 20 tuổi, ông gia nhập Quân đội nhân dân Việt Nam.

Sau Chiến dịch Biên giới năm 1950, Nguyễn Hữu Đông được giao làm Chỉ huy trưởng Trại tù binh số 1. Đây là nơi quản lý các sĩ quan và hạ sĩ quan thuộc binh đoàn của hai viên chỉ huy Pháp Charton và Lepage cùng tù binh thuộc một số binh chủng khác.

Năm ấy, ông mới 24 tuổi. Các cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ tại trại còn rất trẻ và hầu như chưa trải qua trường lớp chuyên biệt nào về quản lý tù binh. Họ phải vừa làm vừa học, dựa trên kỷ luật quân đội và chính sách khoan hồng của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Công việc không đơn giản. Tù binh bị bắt trong Chiến dịch Biên giới đến từ hàng chục quốc tịch khác nhau: Pháp, Đức, Italy, Bỉ, Hà Lan, Áo, Tây Ban Nha, Maroc, Algeria, Tunisia… Mỗi nhóm có ngôn ngữ, phong tục và tâm lý khác nhau. Nhiều người bị thương hoặc mắc bệnh sau thời gian chiến đấu.

Kỳ Thu cùng đồng đội vừa bảo đảm an ninh, vừa tổ chức nơi ở, chăm sóc người bệnh và giải thích cho tù binh hiểu chính sách nhân đạo của cách mạng Việt Nam. Những kinh nghiệm ấy trở nên đặc biệt quan trọng khi ông được điều lên Điện Biên Phủ vào ngày toàn thắng.

Chiều 7/5/1954, Kỳ Thu và đội tiền phương của trại có mặt dưới chân dãy núi Him Lam. Tướng De Castries và nhóm sĩ quan cao cấp do một bộ phận khác tiếp nhận. Còn trước mặt ông là hàng nghìn tù binh Âu, Phi từ các hầm ngầm và cứ điểm kéo ra.

Từng đoàn người chen chúc tiến về điểm tập kết. Trời dần tối nhưng dòng hàng binh vẫn chưa ngừng. Nếu không nhanh chóng tổ chức, sự hỗn loạn có thể xảy ra. Trong số họ có người bị thương, người kiệt sức và nhiều người đã trải qua nhiều ngày thiếu ăn, thiếu nước trong những căn hầm bị vây chặt.

Không có một bộ máy quản lý lớn chờ sẵn. Kỳ Thu đứng trên gò cao, chụm hai bàn tay làm loa, hướng dẫn tù binh tập hợp và phân chia thành các nhóm. Ông chọn một số tù binh còn khỏe, yêu cầu họ hỗ trợ sắp xếp đội ngũ và chăm sóc những người bị thương.

Một nhiệm vụ khổng lồ được bắt đầu ngay giữa chiến trường vừa im tiếng súng.

Đêm ấy, tù binh được bố trí ngủ tạm trong khu rừng gần đường 41. Các đơn vị hậu cần vốn vừa trải qua một chiến dịch dài vẫn cố gắng chuẩn bị thức ăn. Mỗi tù binh được cấp một nắm cơm cùng thịt trâu kho mặn. Những người bị thương và đau ốm được bảo vệ, chăm sóc riêng.

Điều kiện vệ sinh tại chiến trường lúc đó vô cùng nghiêm trọng. Nhiều hầm trú ẩn đã đổ sập. Thi thể chưa được thu dọn hết khiến ruồi nhặng phát sinh khắp nơi. Có thương binh bị nhiễm trùng nặng; giòi xuất hiện trong chăn, băng bó và cả những lớp bột cố định vết thương.

Bộ Chỉ huy mặt trận quyết định lập trại tù thương ở khu vực Tuần Giáo, gần đường 41. Nhiều cán bộ y tế có chuyên môn được rút từ các đơn vị chủ lực để chăm sóc tù binh. Những tù binh là bác sĩ và nhân viên quân y Pháp cũng được phép sử dụng chuyên môn để cứu chữa đồng đội của họ.

Các tấm dù thu được trên chiến trường được căng trên cọc tre làm mái che. Bếp nấu ăn được tổ chức. Thuốc men và dụng cụ băng bó được dành cho những người đang cần cấp cứu. Sau nhiều tuần bị vây hãm, các thương binh Pháp lại được ăn thức ăn nóng và tiếp nhận sự chăm sóc y tế.

Trong hoàn cảnh bộ đội và dân công Việt Nam cũng thiếu lương thực, thuốc men, việc chăm sóc tù binh không chỉ là một nhiệm vụ hậu cần nặng nề. Đó còn là sự thử thách đối với lòng nhân đạo của những người vừa phải chứng kiến đồng đội mình hy sinh.

Kỳ Thu và các chiến sĩ tại trại đã vượt qua sự căm giận chính đáng để thực hiện nghiêm chính sách khoan hồng. Họ phân biệt rõ quân xâm lược với những người lính đã buông vũ khí. Khi đối phương không còn chiến đấu, họ được bảo vệ tính mạng và chăm sóc khi bị thương.

Nhờ những nỗ lực ấy, gần một nghìn thương binh nặng cận kề cái chết đã được cứu sống. Sau khi tập đoàn cứ điểm thất thủ, Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam còn quyết định phóng thích 858 thương binh thuộc 21 quốc tịch. Trong số đó có 624 người châu Âu, 150 người châu Phi và 84 người Việt Nam phục vụ trong quân đội Pháp.

Một bác sĩ quân y Pháp mang cấp bậc quan tư, được phía Việt Nam cho tham gia cứu chữa tù binh, sau đó bày tỏ lòng biết ơn đối với sự chăm sóc của Quân đội nhân dân Việt Nam. Những lời kể của ông cho thấy tù binh bị thương được đưa ra khỏi các hầm đổ, được che mưa nắng, cấp thức ăn nóng, thuốc men và dụng cụ băng bó.

Sự nhân đạo ấy có sức thuyết phục mạnh hơn mọi lời tuyên truyền. Nó giúp những người từng cầm súng chống lại Việt Nam hiểu rằng quân đội chiến thắng họ không chiến đấu vì lòng thù hận dân tộc, mà vì quyền độc lập của Tổ quốc.

Sau này, Đại tá Nguyễn Hữu Đông đã lưu lại ký ức của mình trong cuốn hồi ký Khép lại quá khứ đau thương – Hồi ký về trại tù binh sĩ quan Pháp số 1, xuất bản năm 1996. Tên sách cũng thể hiện tinh thần mà ông theo đuổi: ghi nhớ lịch sử nhưng không nuôi dưỡng hận thù, để quá khứ trở thành nền tảng cho sự hòa giải và hòa bình.

Chiến thắng Điện Biên Phủ thường được kể qua những khẩu pháo, chiến hào và các đợt xung phong. Nhưng phẩm chất của một đội quân còn được thể hiện qua cách họ đối xử với người đã thất bại.

Tại chân đồi Him Lam chiều 7/5/1954, Kỳ Thu và đồng đội đã giành một chiến thắng như thế. Đó không phải chiến thắng bằng tiếng súng, mà là chiến thắng của kỷ luật trước hỗn loạn, của lòng nhân ái trước hận thù và của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ ngay giữa một chiến trường còn ngổn ngang khói lửa.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn