KÝ ỨC 81 NGÀY “MƯA ĐỎ”
Trung tá Nguyễn Cảnh Lương, cựu binh xứ Nghệ, ánh mắt lúc nào cũng xa xa như vẫn còn vương những ngày xưa. Khó khăn, ký ức lại cuốn ông trở về mùa cỏ cháy năm 1972. Khi ấy, Lương mới 20 tuổi, là Bí thư Đoàn còn rất trẻ. Anh tạm biệt núi Nguộc – nơi từng chỉ huy khẩu đội 12 ly 7 – xung phong ra mặt trận với hành trang duy nhất là trái tim yêu nước và quyết tâm giữ mảnh trời quê hương.
Trung tá Nguyễn Cảnh Lương, cựu binh xứ Nghệ, ánh mắt lúc nào cũng xa xa như vẫn còn vương những ngày xưa. Khó khăn, ký ức lại cuốn ông trở về mùa cỏ cháy năm 1972. Khi ấy, Lương mới 20 tuổi, là Bí thư Đoàn còn rất trẻ. Anh tạm biệt núi Nguộc – nơi từng chỉ huy khẩu đội 12 ly 7 – xung phong ra mặt trận với hành trang duy nhất là trái tim yêu nước và quyết tâm giữ mảnh trời quê hương.
Sau chuỗi ngày hành quân chiến đấu, ngày 20/6/1972, Lương vượt sông, đặt chân vào Thành cổ Quảng Trị-mảnh đất vỏn vẹn 3km2 mang trên mình số phận của cả một cuộc đàm phán lớn đang diễn ra cách đó mười ngàn cây số. Tám ngày sau, trận chiến nổ ra.
81 ngày đêm, mùi thuốc súng chưa bao giờ lặng cuống, 328.000 tấn bom đạn được thả rơi, máu nhuốm đỏ từng tấc đất Thành cổ. Trung tá Lương nhớ lại: “Những ngày đó, sức chịu đựng của anh em thật phi thường. Nhưng thương vong quá nhiều. Có người xuống, anh em vừa cày xong, bom lại cày lên…” Đó là một mùa hè kéo dài qua ba mùa mưa – mưa bom, mưa ngập lịch sử nhấn chìm ngập, và “mưa đỏ” – mưa của máu xương của đồng bào thấm nhuần vào lòng đất . Ngày 16/8/1972, giữa một cuộc phản công, Lương bị mảnh pháo vào đầu, ngất xuống tại chỗ. Vết thương còn chưa lành, đầu tháng 9, anh đã nằng nặc xin trở lại đơn vị. Nhiệm vụ đầu tiên khi trở về cũng là mảnh ký ức ám ảnh nhất. Lương cùng bốn đồng đội bò vào lòng đất để tìm và đưa ba chỉ sĩ của đơn vị trở về, trong đó có Đại đội phó Ngọc. Đêm đặc quánh bùn đỏ ấy , cả nhóm lần lần mò từng bước, nơm nớp lo sợ rơi vào ổ phục kích. Khi càng đi sâu , Lương thấy có điều gì lạ. Anh trườn lại gần, dùng tay dò tìm, rồi phát hiện hai quả lựu đạn Mỹ đã chốt gài tinh vi trong vỏ lon sữa – chỉ cần động nhẹ là nổ tung. Lương bình tĩnh vô hiệu hóa bẫy rồi nhận dạng đồng đội đầu tiên. Dù mặt đã được đốt pháo binh, nhưng trong tay vẫn nắm chặt chiếc la bàn. Anh tin đây chính là Ngọc, vì chỉ có thể quản lý bộ đại đội mới dùng la bàn. Chiếc la bàn ấy trở thành bằng chứng cuối cùng cho máu chiến sĩ và tinh thần bất khuất của những người lính trẻ. Lương và đồng đội kéo lê thi thể , đưa “kẻ tâm giao nơi chiến trường” của họ ra khỏi vùng ngập nước.
Đến ngày 16/9/1972, khi đơn vị rút khỏi Thành cổ, hơn 4.000 người lính đã ở lại, riêng đơn vị Lương có 299 người hy sinh. Chiến tranh ngược xa, giờ đây ông Lương là Chủ tịch Hội chiến sĩ Thành cổ. Nhưng chiếc la bàn của người đồng đội xưa cũ, anh vẫn giữ như một lời thề nguyện thuở hòa bình. Đó không chỉ là công cụ chỉ đường mà còn là kim chỉ nam của ký ức về 81 ngày nhuốm đỏ Thạch Hãn, về những mất mát, hy sinh đã hóa thân vào đất nước, non sông.
Thuở hoa lửa, thuở chiến tranh, thuở chiến trường nhuộm đỏ, liệu chăng “ máu anh tuôn như lửa đạn cầu vòng” để giữ chút gì đó, chút gì của mẹ già, của người con gái, của quê hương ?


