Khác

KÝ ỨC BIÊN CƯƠNG

Ngày 9/3/1979, quân Trung Quốc bắt đầu rút khỏi thị trấn Phong Thổ (nay là xã Phong Thổ) theo hai hướng. Đến ngày 10/3, toàn bộ lực lượng địch rút về bên kia biên giới. Cuộc chiến kết thúc, nhưng những gì để lại là vô cùng nặng nề. Gần 1.800 nóc nhà ở 43 bản bị đốt phá, hàng trăm tấn lương thực bị cướp bóc, hoa màu bị hủy hoại, trụ sở chính quyền bị tàn phá, đời sống Nhân dân rơi vào cảnh trắng tay.

Lai Châu19/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

KÝ ỨC BIÊN CƯƠNG – LỜI TRI ÂN KHẮC GHI TỪ THẾ HỆ HÒA BÌNH

Thời gian trôi đi, lớp bụi năm tháng phủ dày lên nhiều ký ức, nhưng có những dấu mốc lịch sử càng lùi xa lại càng trở nên thiêng liêng, đau đáu. Ngày 17/2/1979 (ngày cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc bùng nổ) là một trong những dấu mốc như thế. 40 năm đã trôi qua, nhưng với mảnh đất Phong Thổ, với Lai Châu, và với những con người từng sống trong khoảnh khắc sinh tử ấy, ký ức về cuộc chiến vẫn còn nguyên vẹn, như vừa mới hôm qua.

Chúng ta, những người sinh ra trong hòa bình, lớn lên khi tiếng súng đã lùi xa, chỉ biết chiến tranh qua sách vở, qua phim tư liệu, qua những câu chuyện kể trầm lặng của cha anh. Nhưng càng lắng nghe, càng đọc lại lịch sử, chúng tôi càng thấm thía rằng sự bình yên hôm nay không phải là điều hiển nhiên. Nó được đánh đổi bằng mồ hôi, nước mắt, máu xương và cả tuổi thanh xuân của một thế hệ đã đi qua chiến tranh với tất cả lòng yêu nước và tinh thần sẵn sàng hy sinh.

Rạng sáng ngày 17/2/1979, khi núi rừng Tây Bắc còn chìm trong sương lạnh và người dân vừa khép lại những ngày Tết sum vầy, quân Trung Quốc bất ngờ huy động lực lượng lớn gồm gần hai sư đoàn chủ lực, hàng vạn dân binh cùng xe tăng, pháo binh ồ ạt tiến công các tỉnh biên giới phía Bắc nước ta. Lai Châu trở thành một trong những chiến trường ác liệt, và huyện biên giới Phong Thổ (cũ) là hướng tiến công trọng điểm.

Thời điểm ấy, huyện lỵ Phong Thổ đặt tại bản Sân Bay, xã Mường So (cũ) nay là xã Phong Thổ. Đó là một vùng đất yên bình, nơi con người quen với nương rẫy, với tiếng suối, tiếng khèn gọi bạn, hoàn toàn chưa kịp chuẩn bị cho sự tàn khốc của chiến tranh. Những tiếng pháo đầu tiên vang lên trong buổi sớm tinh mơ khiến nhiều người lầm tưởng là tiếng sấm đầu mùa. Nhưng “tiếng sấm” ấy dồn dập, kéo dài, khô khốc và lạnh lùng, báo hiệu một cơn bão máu lửa đang ập xuống biên cương Tổ quốc.

Lúc bấy giờ, không điện thoại, không sóng liên lạc, thông tin đến chậm, mọi quyết định đều phải đưa ra trong sự căng thẳng tột độ. Ngay khi xác định đây là cuộc tấn công vũ trang, chính quyền địa phương đã khẩn trương phối hợp với lực lượng quân đội, công an, dân quân xuống từng bản làm công tác tư tưởng, trấn an Nhân dân, tổ chức sơ tán người dân đến nơi an toàn.

Cuộc sơ tán diễn ra trong hoàn cảnh vô cùng gian khổ. Những đoàn người lặng lẽ rời bản khi trời còn chưa sáng hẳn, người lớn cõng con, dìu người già, mang theo vài nắm gạo, vài tấm chăn mỏng. Tiếng trẻ con khóc hòa lẫn với tiếng pháo vọng từ xa, tạo nên một khung cảnh ám ảnh không thể nào quên. Đến ngày thứ tư, khi quân địch đốt phá nhà cửa, trụ sở chính quyền, kho lương thực, cuộc di tản lại tiếp tục, kéo dài qua nhiều xã, nhiều địa bàn.

Đặc biệt, bản Huổi Sen (nơi đồng bào dân tộc Giáy sinh sống) do xa trung tâm, đường đi hiểm trở, nên không kịp nhận được thông tin sơ tán. Khi chiến sự kết thúc, việc đầu tiên bà Đèo Thị Ly khi ấy là Phó Chủ tịch kiêm Trưởng Công an xã Mường So làm là tìm đến Huổi Sen. Hình ảnh bà con chạy đến ôm chầm lấy bà, bật khóc trong sợ hãi và tủi mừng, đã trở thành ký ức không thể phai mờ của bà con nơi đây. Đó là khoảnh khắc cho thấy sợi dây gắn bó máu thịt giữa cán bộ và Nhân dân trong những ngày gian nan nhất.

Không chỉ ở Mường So, tại các xã Sì Lở Lầu, Ma Ly Chải, Vàng Ma Chải (nay sáp nhập thành xã Sì Lở Lầu, Dào San…, cuộc chiến diễn ra vô cùng ác liệt. Ông Sùng A Sang khi ấy là Tiểu đội phó Đội pháo 12 ly 7, vẫn nhớ rõ buổi sáng đang cày nương thì nghe tiếng pháo nổ. Từ người nông dân quen với đất đá, ruộng nương, ông cùng nhiều thanh niên khác nhanh chóng cầm súng chiến đấu, bảo vệ từng bản làng, từng con đường, từng điểm cao chiến lược.

Tại Sì Lở Lầu, do bị tấn công bất ngờ và chênh lệch lực lượng, nhiều cán bộ, chiến sĩ của Đồn Biên phòng đã anh dũng hy sinh. Máu của các anh thấm vào đất biên cương, hòa cùng đất đá núi rừng, trở thành một phần của Tổ quốc. Những ngày sau đó, quân địch tiếp tục mở rộng hướng tấn công, hòng chiếm ngã ba Pa So và tiến sâu vào nội địa. Nhưng chúng đã vấp phải sự kháng cự quyết liệt của quân và dân địa phương.

Tại Pa Nậm Cúm, Đồn Công an Nhân dân vũ trang số 33 phối hợp với Tiểu đoàn 64, Trung đoàn 741 chiến đấu ngoan cường. Tiểu đoàn đặc công 41 cùng dân quân du kích các xã Hoang Thèn, Ma Ly Pho, Khổng Lào, Mường So và tự vệ Lâm trường Pa So liên tục chặn đánh địch. Những người dân tộc thiểu số, vốn quen với nương rẫy, săn bắn nhưng đã trở thành những chiến sĩ kiên cường, thông thạo địa hình, bám trụ từng triền núi, từng con suối.

Ngày 9/3/1979, quân Trung Quốc bắt đầu rút khỏi thị trấn Phong Thổ (nay là xã Phong Thổ) theo hai hướng. Đến ngày 10/3, toàn bộ lực lượng địch rút về bên kia biên giới. Cuộc chiến kết thúc, nhưng những gì để lại là vô cùng nặng nề. Gần 1.800 nóc nhà ở 43 bản bị đốt phá, hàng trăm tấn lương thực bị cướp bóc, hoa màu bị hủy hoại, trụ sở chính quyền bị tàn phá, đời sống Nhân dân rơi vào cảnh trắng tay.

Sau chiến tranh, một cuộc chiến khác lại bắt đầu, cuộc chiến hàn gắn và dựng xây. Người dân Phong Thổ trở về trên đống tro tàn, mang theo nỗi sợ hãi vẫn còn hằn sâu trong ký ức. Nhưng với sự động viên của chính quyền, sự hỗ trợ của quân đội, công an trong việc rà phá bom mìn, họ từng bước dựng lại nhà cửa, khôi phục sản xuất, hồi sinh bản làng. Chính trong gian khó ấy, tinh thần đoàn kết, ý chí vươn lên của người dân biên cương càng được hun đúc mạnh mẽ.

Bốn mươi năm đã trôi qua. Những em bé ngày ấy giờ đã thành ông, thành bà. Những người lính năm xưa tóc đã bạc, dáng đã còng. Nhưng ký ức về cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc vẫn còn đó, như một ngọn lửa âm ỉ cháy trong lòng những người từng đi qua sinh tử.

Là thế hệ hôm nay, chúng tôi cúi đầu tri ân những người đã ngã xuống, trân trọng những người đã sống và chiến đấu vì Tổ quốc. Nhớ về ngày 17/2/1979 không phải để khơi gợi hận thù, mà để nhắc nhở mỗi chúng ta về giá trị của hòa bình, về trách nhiệm giữ gìn từng tấc đất biên cương, từng mái nhà, từng bản làng nơi phên dậu Tổ quốc.

Hòa bình hôm nay là kết tinh của biết bao hy sinh thầm lặng. Và chỉ khi khắc ghi lịch sử bằng lòng biết ơn sâu sắc, chúng ta mới có thể sống xứng đáng với những gì các thế hệ cha anh đã gửi lại cho tương lai.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn