KÝ ỨC BIÊN GIỚI VIỆT – TRUNG MỘT THỜI ĐỂ NHỚ VỊ XUYÊN – PHẠM VĂN HÀ
Năm 1986, giữa lúc mặt trận Vị Xuyên – Hà Tuyên đang ở giai đoạn giằng co khốc liệt nhất, những người lính thuộc Sư đoàn 325 (Sư đoàn chủ lực cơ động thuộc Quân đoàn 2) nhận lệnh rời vùng đồng bằng bốc lửa để hành quân ngược lên dải biên giới phía Bắc. Tại đây, bên hướng Đông sông Lô, dải cao điểm 1250 đang bị đối phương chiếm đóng trái phép và biến thành một “pháo đài” hỏa lực khạc đạn ngày đêm xuống ngã ba Thanh Thủy.
Chính tại trận địa 673 / 637 nằm ngay dưới làn đạn chực chờ ấy, chú Phạm Văn Hà cùng đồng đội đã trải qua những ngày tháng hoa lửa nghẹt thở, bám trụ từng tấc đất tiền tiêu của Tổ quốc.
Năm nay đã 58 tuổi là nhân chứng lịch sử của cuộc chiến bảo vệ biên giới Vị Xuyên – Hà Tuyên. Nhắc về ký ức đời lính, mắt Bác lại rực sáng nhưng đượm buồn khi nhớ về nghe những câu chuyện bằng giọng kể đầy tự hào và trôi chảy, cứ như, những câu chuyện đó, với Bác mới diễn ra ngày hôm qua vậy. Bác kể:
Sau khi tràn sang chiếm đóng trái phép cao điểm 1250, quân Trung Quốc lập tức thiết lập các trận địa pháo bắn thẳng, bố trí súng đại liên 12ly7 và 14ly5 khống chế toàn bộ vùng thung lũng bên dưới.
Trận địa dưới tầm ngắm: Trận địa chốt giữ của đơn vị Bác thuộc Sư 325, Quân Đoàn 2, trực thuộc trung ương nằm ở khu vực lân cận cao điểm 637, nằm hoàn toàn trong tầm bắn cầm canh của địch. Cứ vài phút, từng loạt đạn xé toạc màn sương mù dội xuống chiến hào.
Mỗi lần giặc nã pháo là đất đá bị cày xới liên tục thành bột mịn. Bác nhớ lại, thời điểm năm 1986 ấy, không có một ngày nào tai được yên ắng. Giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, những người lính Quân đoàn 2 vẫn lạnh lùng ôm súng bám hầm, giữ vững trận địa phòng ngự cốt tử.
Đối với Bác và đồng đội, cuộc chiến năm 1986 không chỉ có tiếng pháo, mà còn là cuộc chiến sinh tồn khắc nghiệt trong những hốc đá, hang sâu.
Chiến tranh biên giới liên tục khiến cho nước uống kham khổ, cơm sấy, lương khô nhuốm mùi thuốc súng. Mùa đông biên thùy rét cắt da cắt thịt, sương muối phủ trắng xóa đá tai mèo nhưng bác và các đồng đội vẫn quyết trí giữ và bảo vệ biên giới.
Để giữ được trận địa chốt, các chiến sĩ phải ngụy trang di chuyển xuyên đêm qua những dốc đá trơn trượt, né từng loạt pháo mồ côi để cõng đạn dược, nhu yếu phẩm lên chốt. Mỗi bước đi là một lần đối mặt với tử thần, nhưng ý chí “Một tấc không đi, một ly không rời” đã ghìm chân những người lính Sư 325 ở lại với đỉnh cao. Bác nhớ lại có một đợt sốt rét nhiều, đội vận tải thiếu người Bác cùng vài đồng đội phải lương thực, sách báo vào trong Hang Dơi cho sư đoàn phải đi qua đoạn có tên gọi là “Cửa Tử” – Chỗ đó giặc bắn pháo suốt ngày, làm cho các chiến sĩ không qua được. Trên đỉnh 1250 mà giặc đã chiếm đóng, bên dưới Bác và đồng đội phải gùi đi qua nhưng khu “Cử Tủ” đó không thể đào được hào, nhưng không làm sao chạy qua được, cứ chuẩn bị đào là giặc lại nã pháo vào, đêm khi nghe tiếng sung đầu long bắn là bác và đồng đội cứ nhìn thấy chỗ nào có để chui được đầu vào chỗ có hòn đá là chui vào để đầu đảm bảo an toàn, còn lại chân tay, thân thể thì mặc kệ. Bác nhớ nhất đợt đi gùi lương thực có một đồng đội bị pháo bắn trúng mất một nửa da đầu hi sinh, mãi không tìm thấy phần còn lại để đưa đi chôn cất, sau khi chú đồng đội đó được chuyển đi chôn cất thì ngày hôm sau mới tìm thấy phần còn lại nên mọi người lại phải đào đất cát chôn cất phần còn lại của chú đồng đội đã hi sinh ở khu vực đó, khi kể đến đó trong mắt bác rưng rưng đỏ vì thương đồng đội và nhớ lại những năm tháng không thể nào quên đó. Bác nói “những ngày tháng năm ấy, chiếc mũ cối và bộ quân phục bám bụi đường trường nhưng bước chân của người lính Sư đoàn 325 chưa từng mỏi. Khi nghe tiếng sung, mùi khói đạn lúc đó không còn sợ chỉ làm thế nào để nhanh nhất để có thể di chuyển thật nhanh, đánh thật nhanh”.
Trở về với cuộc sống đời thường sau khi hoàn thành nghĩa vụ quốc tế bảo vệ biên giới, Bác mang theo trên mình những vết thương mỗi khi trái gió trở trời lại đau nhức. Nhưng chưa một lần Bác than vãn.
Hằng ngày, Bác vẫn là một người ông hiền hậu, kể cho con cháu nghe về những người đồng đội đã nằm lại ở tuổi đôi mươi, về những bữa cơm chan nước mắt nhưng thấm đượm tình đồng chí.
Câu chuyện về cuộc đời Bác Phạm Văn Hà – người lính Sư đoàn 325 Quân đoàn 2 – như một thước phim tư liệu sống động về lòng yêu nước. Những nhân chứng lịch sử như cụ chính là gạch nối giữa quá khứ hào hùng và hiện tại hòa bình.


