KÝ ỨC CỦA NỘI: TUỔI THƠ TRONG LỬA ĐẠN
Vào một trưa tháng Tư đầy nắng - cái nắng của những ngày lịch sử - nội dắt tay
em đi trên con đường đất đỏ, hai bên là những đồi núi nhấp nhô của vùng quê cách
mạng. Dừng chân bên một dòng suối trong veo nằm lọt thỏm giữa đại ngàn, hai bà cháu
chọn ngồi dưới bóng cây mát rượi. Trong lúc em mải mê nghịch nước và nhâm nhi
những quả sim chín mọng, nội lặng lẽ ngồi tựa vào tảng đá lớn. Ánh mắt nội xa xăm, rồi
nội khẽ ngâm những câu thơ mà có lẽ chính cuộc đời nội đã viết nên:
“Tuổi 14 xin đi làm cách mạng
Anh xoa đầu: “Lớn tí nữa nha em”
Súng AK mang chạm gót chân mềm
Sao đánh giặc hỡi người em yêu dấu.
Còn bé quá em nào đâu hiểu thấu
Lắm gian nguy, kham khổ chốn chiến trường
Ở lại quê người em gái anh thương
Làm nhiệm vụ giao liên đưa thư mật.
Chiều mây giăng, Tam Kì ngập nước
Một mình em sải bước chốn đô thành
Tà áo trắng sao quá đỗi mong manh
Rét mùa đông buốt lên từng thớ thịt.
Em như chim non, véo von, ríu tít.
Lạc giữa rừng hổ báo chẳng ngại chi
Rồi một lần em bị giặc bắt đi
Chúng tra khảo giam cầm trong ngục tối.
Đường em đi Đảng ta đang dẫn lối
Một niềm tin ngày chiến thắng đến gần!!!
Thấy nội rơm rớm nước mắt, em chạy đến sà vào lòng bà, tò mò hỏi về câu
chuyện của những vần thơ ấy. Nội cười hiền, chỉ tay về phía thung lũng âm u nơi dòng
suối róc rách chảy: “Đó từng là căn cứ của các chú bộ đội và đội công tác Kỳ Chánh
năm xưa, con ạ.”
Năm 1973, khi mới tròn 14 tuổi, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ đang ở giai
đoạn cam go và thiếu thốn nhất, nội đã nung nấu ý chí góp sức cho quê hương. Với
khẩu hiệu nằm lòng “Để bộ đội ăn no mà đánh thắng”, nội cùng bà Hồng (hiện bà đang
sống tại thôn Nam Định, xã Tam Anh, thành phố Đà Nẵng) đã không quản ngại hiểm
nguy, âm thầm tiếp tế từng lon gạo, nắm cơm muối vừng cho bộ đội. Có những ngày
giặc phục kích, đường lên căn cứ bị chặn đứng, nội thao thức cả đêm vì thương các chú
phải chịu đói, chịu rét trong rừng sâu.
Bước ngoặt đến khi nội và vài người bạn cùng nhận nhiệm vụ từ ông Nguyễn
Thanh Quý- một …………. (hiện ông Quý đang sinh sống tại phường Tam Kỳ, thành
phố Đà Nẵng). Nhiệm vụ được giao là trực tiếp mang mìn dây đặt tại nơi quân địch
thường xuyên hành quân qua và trú ngụ. Nội vô cùng phấn khởi vì được tổ chức tin
tưởng giao cho trọng trách to lớn nhưng cũng không ít lo lắng vì sợ mình không đủ bản
lĩnh thực hiện. Nhiệm vụ lần đó nội không hoàn thành được như mong đợi nhưng tiếng
nổ vang trời năm ấy như thổi bùng ngọn lửa căm thù giặc và quyết tâm đi theo cách
mạng của người con gái nhỏ bé là nội. Cũng từ đó, nội mạnh dạn xung phong nhận và
hoàn thành nhiều nhiệm vụ mà các anh, các chú cách mạng giao cho.
Một trong số những nhiệm vụ quan trọng mà nội được giao tiếp theo là liên lạc
thư từ bí mật cho các cô chú hoạt động nội thành trong lòng địch. Hôm ấy nội cũng đến
lớp học nhưng tới giờ giải lao nội trốn tiết để đi làm nhiệm vụ giao liên này. Tam Kỳ
ngày ấy - nơi phố thị phồn hoa và náo nhiệt, có một cô bé 14 tuổi nhỏ nhắn rảo bước
dưới cơn mưa phùn ướt đẫm lạnh thấu xương. Nội bước vào quán càfe có bảng hiệu
Mây Hồng. Tại đây, nội có nhiệm vụ trao thư mật cho một người phụ nữ. Cô ấy có vẻ
ngoài đẹp như tiên giáng trần, khác hẳn với những người phụ nữ nội từng gặp. Với
những mật hiệu được các chú dặn dò trước, nội thành công trao thư và trở về. Cho đến
bây giờ nội vẫn còn nhớ cảm giác vui sướng khôn tả khi hoàn thành nhiệm vụ ngồi trên
chiếc xe lam và trở về nhà. Không lâu sau đó, nội lại lấy cớ đi tìm bò thất lạc hoặc sang
nhà bạn mượn vở chép bài. Nội lân la đến gần nơi bọn địch đóng quân để vẽ lại vị trí
đồn bốt của địch. Vùng Nam Cát ngày ấy, chẳng nơi nào thiếu bước chân nhỏ bé của
nội nên mọi ngóc ngách nội nắm rất rõ. Cũng nhờ vậy mà nội dễ dàng vẽ lại những vị trí
đóng quân tạm thời của bọn địch để báo lại cho các chú cách mạnh của ta chủ động lên
phương án tác chiến. Mỗi lần được ông Quý khen, nội lại nhảy cẩng lên vì sung sướng.
Nội vui và tự hào lắm khi được góp sức mình trong cuộc chiến chống lại kẻ thù đang
hiện diện ngay trên quê hương yêu dấu của nội.
Ngoài kia tiếng suối vẫn róc rách chảy, mấy chú chim gần đấy lại cất giọng hót
líu lo như cũng muốn được cùng em lắng nghe những câu chuyện tiếp theo của một thời
“Tuổi thơ dữ dội” mà nội em đã từng trải qua.
Bao nhiêu kí ức òa về, nội lại kể tiếp, giọng đầy xúc động: Vào cuối năm 1974,
trong lúc nội đang làm nhiệm vụ rải truyền đơn thì bị địch phát hiện. Chúng bắt và
giam nội tại nhà lao tỉnh Quảng Tín. Trong nhà lao bấy giờ chỉ có nội là nhỏ tuổi và nhỏ
người nhất. Nhưng bọn địch nào chịu buông tha, chúng tra khảo, đánh đập và bắt nội
khai người đã chỉ đường dẫn lối để nội rải truyền đơn. Trước sau như một, nội vẫn chỉ
khai duy nhất một lời: “Cháu không biết chữ, cháu được mấy chú cho kẹo bảo đi rải
giấy thì cháu làm thôi”. Bao ngày bị đánh, bị hù dọa và bắt đi lao động cực khổ thì cô
bé gầy guột thiếu sức sống ngày ấy vẫn không một lời khai bất lợi cho những chiến sĩ
cách mạng của ta. Đặc ân duy nhất nội được nhận khi ngồi tù là được ra khỏi khu vực
nhà giam để vào phụ bếp, đi cắt rau nấu cám nuôi lợn. Có lẽ bọn địch nghĩ nội cũng chỉ
là một đứa trẻ con. Lợi dụng điều đó, những lần đi cắt rau hay phụ bếp nội lén giấu một
chút thức ăn rồi mang sang tiếp tế xoa dịu cái đói của các cô chú cách mạng bị nhốt
trong lao. Địch không đủ bằng chứng và nội cũng chưa đủ tuổi để xử tội nên sau một
thời gian giam giữ chúng thả nội về kèm theo những lời đe dọa man rợ. Nhưng những
điều đó chẳng làm nội sờn lòng mà trái lại càng tăng thêm nhiệt huyết được cống hiến
sức mình cho cuộc chiến đấu diệt trừ cái ác ngay trên vùng cát trắng đầy nắng gió quê
nội.
Hòa bình lập lại, nội viết tiếp ước mơ còn dở dang bằng việc cắp sách tới trường
và trở thành cô giáo. Nội mang con chữ đến cho bao thế hệ học sinh vùng Nam Cát
bằng đôi tay từng đã từng tiếp tế lương thực cho bộ đội, rải truyền đơn, giao thư mật,….
Giờ đây, dù mái đầu đã bạc và đã về hưu nhiều năm, nội vẫn bền bỉ với các hoạt động
của Hội tù yêu nước, nội em cùng với các ông các bà trong hội dành những suất học
bổng nghĩa tình cho học sinh nghèo để động viên các bạn tiếp tục vượt khó khăn tiếp
bước đến trường. Với em, nội không chỉ là người bà kính yêu, mà còn là một tấm gương
sáng ngời về nghị lực và đạo đức cách mạng. Câu chuyện của nội nhắc nhở thế hệ măng
non chúng em phải biết trân trọng và sống xứng đáng với xương máu mà cha ông đã đổ
xuống cho hình hài đất nước hôm nay.


