KÝ ỨC KHÔNG PHAI MỜ VỀ THỜI LỬA ĐẠN

BÙI QUANG MY – NGUYỄN THỊ CHUNG: KÝ ỨC KHÔNG PHAI MỜ VỀ THỜI LỬA ĐẠN
Đã bao nhiêu năm trôi qua kể từ ngày đất nước thôi tiếng súng, vậy mà mỗi khi nhắc lại, ông bà vẫn nhớ như in những tháng ngày chiến tranh đầy gian nan và thiếu thốn. Ký ức về những bữa cơm độn khoai sắn, những đêm chạy giặc trong tiếng bom đạn, hay những ngày mong được trở về quê hương… vẫn vẹn nguyên trong tâm trí. Mỗi lần kể lại, bao nhiêu cảm xúc lại dâng trào, vừa đau thương, vừa tự hào, vừa biết ơn cuộc sống hòa bình hôm nay.
Thật vinh hạnh khi tại địa phương (Khu phố Tân Thạnh, Phường Xuân Đài, Tỉnh Đắk Lắk) có sự hiện diện của ông Bùi Quang My và bà Nguyễn Thị Chung, những người anh hùng đã từng trực tiếp chiến đấu và vẫn còn sống để kể lại cho thế hệ trẻ những câu chuyện chân thật nhất về chiến tranh.
Những năm tháng chiến tranh - ký ức không thể phai mờ: Chống Đại Hàn
Ông Bùi Quang My, sinh ngày 10/01/1938, nhập ngũ năm 1963. Một năm sau, ông vượt dãy Trường Sơn vào Nam chiến đấu, hoạt động tại Trung đoàn Ngô Quyền với địa bàn trải dài Khánh Hòa - Phú Yên - Bình Định.
Đến cuộc tổng tiến công Mậu Thân 1968, trong khi đang công tác tại Xuân Lộc, thì từ đầu năm 1967, quân Đại Hàn đổ bộ vào khắp miền Nam. Trận địa hỗn loạn, đơn vị của ông bị chia cắt. Người chạy ra Quy Nhơn, người lẩn sâu vào rừng, còn có người bị bắt khi pháo binh và trực thăng địch tràn xuống Hoàng Đế - Hoàng Chùa, những nơi bị quân Đại Hàn chiếm đóng dày đặc.
Tiểu đội của ông mười mấy người, vậy mà khi rút lui chỉ còn lại ba. Địch đánh lên Đá Đen (Xuân Lộc), hai đồng đội bị hy sinh, chỉ còn một mình ông thoát lên núi. Từ đó, ông mất liên lạc với đơn vị, và kẹt giữa rừng núi suốt ba tháng, từ 03/01/1967 đến 04/04/1967 mới tìm cách trở về Sông Cầu (nay là phường Sông Cầu, Đắk Lắk).
Trên núi, ông chỉ có duy nhất một bộ quần áo. Nắng lên thì ra suối tắm, giặt rồi phơi, chờ khô để mặc lại. Đêm xuống lại co ro chống rét. Pháo địch bắn từ đồi cao xuống suốt ngày đêm, ông phải đào một cái hầm nhỏ, cột võng vào đó để khi pháo nổ thì chui xuống tránh.
Lương thực chỉ là sắn, khoai rừng, trái tu hú, cây đủng đỉnh, chuối rừng… Có tuần không có nổi một hạt cơm. Nước cũng phải tiết kiệm, đun lên rồi chỉ dám húp từng ngụm để chống khát. Ông nhìn trăng để tính ngày, sống giữa bom đạn rình rập và cái đói thắt ruột.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Khi xuống núi, ông nhìn thấy hai đồng đội đã hy sinh, chỉ còn lại bộ xương và chiếc đầu. Ông nghẹn ngào xúc đất chôn cất, rồi tiếp tục lần theo đường mòn tìm đơn vị.
Đánh nghĩa quân ở Hòa Lợi
Năm 1968, ông tham gia chiến dịch đánh nghĩa quân ở Hòa Lợi, Sông Cầu (nay thuộc thôn Hòa Lợi, Xuân Cảnh). Địch tiếp tục tăng quân, thế trận ngày càng khốc liệt.
Ông và đồng đội trú trong hai hầm chiến đấu: một hầm 9 người, một hầm 5 người. Bi kịch xảy ra khi hầm 9 người bị địch phát hiện, chúng khui nắp hầm và ném lựu đạn xuống khiến toàn bộ chiến sĩ hy sinh. Sau đó đơn vị rút về Hòa Lợi.
Hầm 5 người - nơi ông trú - may mắn không bị lộ. Ban đầu ông định vào hầm 9 người, nhưng vì đông nên được chuyển sang hầm 5. Sự dịch chuyển tình cờ ấy đã giữ lại cho ông một mạng sống.
Sau khi trở về Sông Cầu, ông được đưa đi điều dưỡng để điều trị những vết thương do đạn ở cổ, chân… Khi lành lặn trở lại, đầu năm 1968, tỉnh Phú Yên cũ điều động lực lượng chuyển ngành sang dân chính. Ông từ đó công tác tại Ban Nhân trực Sông Cầu, không còn tiếp tục đời lính.
(Hình ảnh và Huân Chương Kháng Chiến của Ông Bùi Quang My)
Khát vọng trở về quê hương
Bà Nguyễn Thị Chung (sinh ngày 02/09/1949) kể lại rằng thời chiến, bà và đồng đội phải leo núi, băng rừng suốt ngày đêm; chỉ khi lên đến đồng bằng mới hết dốc. Khi ấy, không ai thấy mỏi chân hay mệt mỏi, bởi trong tim chỉ có một điều thôi thúc: đánh thắng giặc Mỹ để được trở về quê hương, gặp lại cha mẹ.
Họ mang nặng đến mấy cũng không thấy nặng, mà đi bao xa cũng không thấy mỏi. Nhưng cái chết luôn rình rập. Đang ăn, vừa bước ra khỏi hầm có thể bị biệt kích bắn gục bất cứ lúc nào. Bà và đồng đội từng nhiều lần phải rút gấp lên núi khi bị phục kích. Bao nhiêu người đã hy sinh, bao nhiêu giấc mơ dở dang…
Những ký ức ấy đến giờ, mỗi khi kể lại, trong bà vẫn dâng lên nỗi nghẹn ngào, vừa đau thương, vừa kiêu hãnh, vừa biết ơn những người đã nằm lại để hôm nay đất nước được bình yên.
Những câu chuyện của ông Bùi Quang My, của bà Nguyễn Thị Chung và biết bao con người đã sống, chiến đấu trong lửa đạn năm xưa là những trang ký ức không bao giờ phai mờ trong lịch sử dân tộc. Đó không chỉ là hồi ức về sự gian nan, đói khổ hay những mất mát đau thương, mà còn là minh chứng cho sức mạnh kiên cường, cho lòng yêu nước cháy bỏng và niềm tin mãnh liệt vào ngày đất nước hòa bình. Những vết thương chiến tranh vẫn còn hằn sâu trên cơ thể họ – những mảnh đạn nằm lại qua bao năm tháng, những cơn đau trái gió trở trời – như một bằng chứng sống động về sự khốc liệt mà họ đã đi qua.
Hôm nay, khi cuộc sống đã đổi thay, khi những tiếng bom đạn chỉ còn vang vọng trong ký ức, chúng ta càng trân trọng hơn giá trị của độc lập và sự hy sinh thầm lặng của thế hệ đi trước. Mỗi câu chuyện, mỗi vết thương, mỗi nấm mộ vô danh đều nhắc nhở chúng ta phải sống xứng đáng với những gì họ đã đánh đổi.
Để rồi, qua ký ức của những người như ông My, bà Chung, ta hiểu rằng hòa bình hôm nay không phải tự nhiên mà có – đó là kết tinh của máu, nước mắt và lòng quả cảm của cả một thế hệ. Và trách nhiệm của chúng ta là gìn giữ, biết ơn và tiếp tục kể lại, để những trang sử ấy mãi mãi được truyền lại cho mai sau.



