Bài viết

Ký Ức Lửa Đạn Và Cuộc Đời Cống Hiến Của Người Chiến Sĩ Lê Văn Nhẫn

Ngô Ánh Tuyết

Hải Phòng22/08/2026xã Hợp Tiến (Xã Hợp Tiến)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Dù những năm tháng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đã lùi xa vào quá khứ, nhưng trong ký ức của người cựu chiến binh Lê Văn Nhẫn, những ngày tháng cùng đồng đội vào sinh ra tử tại Uông Bí, Kiến An, cho đến dải đất miền Trung nắng lửa như Nghệ An, Quảng Bình và thung lũng A Sầu - A Lưới vẫn vẹn nguyên như mới diễn ra hôm qua.

Sinh ra tại vùng đất Đông Nam, phường Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, chàng thanh niên Lê Văn Nhẫn gác lại bút nghiên để lên đường nhập ngũ vào giữa tháng 9 năm 1965, khi vừa tròn 17 tuổi. Chưa đầy ba tháng sau ngày gia nhập quân ngũ, ông đã trải qua thử thách lửa đạn đầu tiên trong đêm 21 rạng sáng 22 tháng 12 năm 1965. Với vai trò trắc thủ máy đo xa thuộc Đại đội 6, Trung đoàn 243, Sư đoàn 363 Phòng không - Không quân, ông cùng đồng đội kiên cường bám trận địa bảo vệ Nhà máy Nhiệt điện Uông Bí. Mặc cho bom rơi đạn nổ dữ dội hất tung cả tiểu đội, làm vị đại đội phó hy sinh ngay bên cạnh, người lính trẻ vẫn bình tĩnh bám máy đo tầm, truyền lệnh cho các khẩu pháo 37 ly rền vang. Đêm ấy, lực lượng ta đánh lui đợt tập kích của máy bay Mỹ, nhưng 60 đồng đội của ông đã vĩnh viễn ngã xuống hoặc mang thương tật trên mình.

Sang năm 1968, ông tiếp tục làm nhiệm vụ bảo vệ sân bay Kiến An – căn cứ phòng không trọng yếu của Hải Phòng. Giữa những đợt oanh tạc liên tục của địch, ông rèn luyện cho mình bản lĩnh vững vàng, cùng đơn vị thức trắng nhiều đêm chốt giữ từng đường băng, dãy nhà. Đến năm 1971, đơn vị ông hành quân vào Nghệ An bảo vệ sân bay dã chiến Anh Sơn nhằm chi viện cho chiến trường Lào, rồi tiếp tục vào Quảng Bình làm nhiệm vụ chốt giữ bến phà Long Đại và tuyến đường 15A. Tại đây, lực lượng phòng không ngày đêm bám sát bầu trời, bảo vệ vững chắc tuyến đường huyết mạch nối hậu phương miền Bắc với tiền tuyến miền Nam.

Năm 1972, bước chân người lính Lê Văn Nhẫn tiến sâu vào Thừa Thiên - Huế, tham gia bảo vệ sân bay A Sầu – A Lưới. Ở vùng đất này, ông cùng đồng đội không chỉ đối mặt với bom đạn mà còn phải hứng chịu hậu quả nặng nề từ bom hóa học của địch, khiến rừng cây trụi lá, nguồn nước nhiễm độc và căn bệnh sốt rét rừng hoành hành.

Đến ngày Đại thắng mùa Xuân 30 tháng 4 năm 1975, ông không còn đủ sức khỏe cầm súng do cơ thể kiệt sức bởi sốt rét và bệnh tật. Ông được đưa ra Binh trạm 110 ở Bắc Ninh để điều trị. Sau gần 11 năm cống hiến tuổi xuân cho Tổ quốc, người lính trở về đời thường với tỷ lệ thương tật 61%, mang trong mình di chứng chất độc da cam cùng nhiều bệnh tật. Dù vậy, tinh thần thép của người chiến sĩ năm xưa vẫn luôn vẹn nguyên, là nốt trầm kiêu hãnh trong khúc ca giải phóng của dân tộc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn