KÝ ỨC, NGÀY ĐẦU NHẬP NGŨ
Những ngày đầu bước vào huấn luyện thật khó khăn và vất vả bởi nhiều cái mới, học Điều lệnh đội ngũ, học mang vác súng... và những buổi học chính trị, khi thảo luận ở tiểu đội được anh Sỹ tiểu đội trưởng chỉ định phát biểu, tôi đã vận dụng nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 4 (khi ở nhà thời gian học phổ thông) nói về đường lối chung, đường lối kinh tế, phân tích 3 cuộc cách mạng về xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, về kinh tế và tư tưởng văn hoá, ai cũng bảo tôi hiểu bài; được thể các bu
Lần đầu tiên thực hiện lệnh báo động, hôm ấy là một giờ sáng Tiểu đội đang ngủ thì nghe tiểu đội trưởng hô to: toàn Tiểu đội dậy tập hợp. Tôi vội vàng mặc quần áo và đi giầy vải, không có đèn chúng tôi mò mẫm trong bóng tối. Vì đã được quán triệt việc xếp đặt quần áo, giầy dép để sẵn sàng cơ động khi có lệnh nên trời tối chúng tôi thực hiện theo lệnh khá nhanh và chạy ra khỏi nhà xuống đường tập hợp, sau đó Trung đội trưởng hô đường hướng, khoảng cách và ra lệnh chạy. Trời tối, đường đất gồ ghề có nhiều vũng nước đọng thỉnh thoảng có đứa giẫm phải lại làm tung toé vào cả người chạy trước, chạy phía sau. Hôm đó có lẽ chạy đi và chạy về phải đến 4 km, khi lên giường tôi thấy bàn chân đau rát, không sao ngủ được và thức luôn đến sáng.
Thế rồi chúng tôi được lĩnh phụ cấp và nhận nhu yếu phẩm, phụ cấp binh nhì là 5 đồng sau khi trừ hàng bách hoá (bao gồm 6 kg đường đỏ, 2 bao thuốc lá phù đổng, 1 hộp kem đánh răng, 1 bàn chải răng, 6 tem thư, 2 lưỡi dao lam) còn lại là hơn 3 đồng để tiêu vặt. Lần đầu được nhận tiền và hàng hoá thấy rất vui mặc dù hàng bách hoá phải sử dụng trong 3 tháng nhưng với cá nhân tôi thấy như vậy là đủ. Vào một ngày chủ nhật được nghỉ mấy anh em chúng tôi xin phép cán bộ đi ra ngoài đường chơi, được sự đồng ý nhưng chưa thông thạo địa bàn chúng tôi phải xuống nhờ anh Văn là nhân viên Ban Quân lực và là đồng hương cùng quê huyện Tam Thanh, tỉnh Phú Thọ; anh Văn nhận lời dẫn chúng tôi đi, vừa đi anh vừa giới thiệu chúng tôi được mở mang rất nhiều về địa hình, dân cư và những vấn đề về văn hoá - xã hội nơi đây. Từ chỗ chúng tôi đóng quân đi ra khoảng 2 km thì thấy thấp thoáng các ngôi nhà lụp xụp ven chân đồi, khe suối, anh Văn bảo đấy là nhà của dân ở dưới xuôi lên định cư còn người dân tộc thì họ ở tập trung thành từng bản. Đi hết quãng đường đất hiện ra là con đường nhựa, tôi rất ngạc nhiên và có lẽ đây là lần đầu tôi nhìn thấy đường nhựa; tôi hỏi đường này đi đâu? Anh Văn nói đường này là hữu nghị 7A do Trung Quốc làm giúp chúng ta từ thời chống Mỹ nối từ biên giới chạy về đến Yên Bái và đây là km 25. Từ đây lên cửa khẩu Lào Cai là 25km, tôi cũng chỉ vâng dạ còn chả hình dung như thế nào. Đi xuôi đường nhựa một đoạn khá xa hai bên đường xuất hiện nhiều nhà và có những cây cầu và cống bị xập đổ, đi qua chúng tôi phải nhảy từ tảng bê tông này sang tảng khác để khỏi ướt, anh Văn cho biết những cầu cống này trên tuyến đường rất nhiều, khi quân Trung Quốc tràn sang công binh của ta phải đánh sập để cản đường chúng, nhưng khi quân Trung Quốc rút đi chúng phá nốt số còn lại để triệt hại ta. Một kỷ niệm khó quên, đó là phiên gác 2 giờ sáng; thời gian đầu để trấn an chúng tôi, khi mới tập gác mỗi ca cán bộ cắt cử 2 người, về sau chỉ cắt một người. Tuy đã gác mấy lần nhưng gác ca khuya trời vắng rất sợ vì sung quanh là rừng và những câu chuyện về thám báo biệt kích Trung Quốc vẫn mò sang dò la, phá hoại và bắt cóc bộ đội. Vì là chiến sỹ mới khi gác chúng tôi không được mang súng chỉ có cây gậy. Trời về khuya tĩnh lặng bỗng tôi nghe thấy tiếng thình thịch của bước chân ngày một gần, tôi căng mắt nhìn và lờ mờ thấy một bóng người, nghĩ phải báo động cho Tiểu đội và Trung đội biết, tôi đứng dậy lấy hết sức phang chiếc gậy vào bức vách nơi giường Tiểu đội trưởng và hô to ai? Đứng lại!. Phía dưới đường bóng người hoảng loạn nói lứu lưỡi em, em, em... đừng bắn... Nghe tiếng hô của tôi, cả tiểu đội bừng tỉnh, vung dậy khỏi vị trí lao ra ngoài.... tôi chỉ cho anh Sỹ Tiểu đội trưởng người dưới đường và chúng tôi đi xuống thấy là một người đàn ông còn trẻ đứng run rẩy miệng lắp bắp nói em xin các anh, em đi ở xuôi lên, tàu muộn nên giờ em mới đi qua đây để về nhà. Lúc này cả Trung đội đã vây quanh, Anh Khương Trung đội trưởng yêu cầu thanh niên kia bỏ túi sách để kiểm tra thấy trong đó có bộ quần áo, bao thuốc lá và mấy thứ linh tinh, anh Sỹ yêu cầu cho khám người song không có gì cả, sau khi hỏi tên tuổi quê quán và về đâu? người thanh niên đó nói về đúng nơi, địa điểm các anh cán bộ biết do vậy các anh nói là cho đi và yêu cầu Trung đội về nghỉ tiếp; anh Khương khen tôi có tinh thần cảnh giác và báo động tốt. Còn anh Sỹ thì nói: ông đập mạnh quá làm tôi cũng mất vía... Sau lần đó trong các buổi sinh hoạt và điểm danh Tiểu đội, Trung đội, tôi được chi huy đơn vị biểu dương.
Sau hơn một tháng kết thúc chương trình huấn luyện tân binh và thực hiện điều động về các cơ quan, đơn vị trực thuộc Trung đoàn; 4 anh em cùng xã mỗi người đi một nơi. Khoa được chọn đi học khẩu đội trưởng, Chinh được chọn về quân nhu Trung đoàn, Sứ về làm kế toán pháo binh thuộc đại đội 20, còn tôi và 2 người khác, tên là Bình và Hường (cùng Trung đội huấn luyện) được điều về Đại đội 18 thông tin. Anh Thế Anh là văn thư đại đội nhận và dẫn chúng tôi về đơn vị, lúc ấy cũng đã vào tầm 9 giờ sáng; một lúc sau thì anh Đại đội trưởng về chúng tôi được nghe phổ biến giới thiệu chỉ huy đơn vị và được biết đơn vị hiện có đại đội trưởng và đại đội phó, thiếu chính trị viên; biên chế thành 2 Trung đội: Trung đội hữu tuyến điện và Trung đội vô tuyến điện; 2 Tiểu đội gồm tổ đài 15W và tiểu đội nuôi quân, tôi và Hường được điều về về Trung đội hữu tuyến điện, còn Bình thì về Trung đội vô tuyến điện. Ngày đó đơn vị chỉ có nhà cột chôn, mái lợp nứa hoặc cỏ tranh nhưng mỗi Tiểu đội ở một nhà riêng, tôi được biên chế về a2 nhà ở rất cao tôi đếm phải hơn 30 bậc mới lên đến nơi.
Tôi nhớ một lần vào ngày nghỉ, anh Gần phó đại đội trưởng và mấy anh cán bộ Tiểu đội, Trung đội về thăm nơi trước đây đơn vị đóng quân thuộc km 31 xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng tôi được các anh cho đi theo và nói để sau này giữ giữ mối liên hệ với những người đã quen biết. Được các anh cho biết khi thành lập Trung đoàn tháng 10 năm 1979 vì chưa có doanh trại nên đại đội phải đóng quân ở nhà dân (lần đi chơi đó đã tạo cho tôi một quyết tâm là phải học bằng được đàn ghi ta). Đến nơi, anh Gần dẫn đoàn đi lần lượt các nhà, nhà ở rải rác mấy quả đồi đường miền núi thì bé hẹp, cây, cỏ rậm um tùm. Khi đến một gia đình tôi không nhớ tên, thấy một cô bé chắc tầm 16,17 tuổi đang ngồi đánh đàn ghi ta và hát bài Chiều trên bến cảng “..một chiều mùa hè, gặp nhau trên bến cảng, ta chia tay nhau trong lòng bao lưu luyến...”, tuy được nghe các anh cùng đơn vị đánh đàn và hát song nghe lời cô bé hát với chất giọng mượt mà, biểu cảm đã gây ấn tượng rất mạnh trong tôi, thế rồi tiếng đàn và giọng hát ấy là động lực tôi phải học đàn bằng được để hát cùng đồng đội và hát cho chính mình hành khúc “Tiến bước dưới Quân kỳ” là con đường đã chọn.
Từ khi hai đại đội sát nhập tôi có dịp được tiếp xúc và làm quen với nhiều người hơn và nhiều quê quán hơn, thời đó lính tổng động viên nên hầu hết các tỉnh đồng bằng bắc bộ và một số tỉnh miền Trung. Trong đại đội nhiều người có tài lẻ về văn nghệ và thể thao nên tôi lần mò tìm hiểu và học theo nhất là tiếp tục đánh đàn, học hát và chơi bóng bàn. Ở đại đội được trên điều chuyển một bộ phận tổ sửa chữa thông tin (gọi là cơ công) tổ nạp ắc quy (gọi là tổ nguồn) toàn là quân nhân chuyên nghiệp. Vì là chuyên môn có mối quan hệ rộng với bên ngoài toàn gia đình có điều kiện sử dụng phương tiện máy móc, loa đài qua lại sửa chữa do đó mà bộ phận này kẹo bánh, chè, thuốc và các thứ sinh hoạt khác thường có sẵn. Tuy nhiên bộ phận chúng tôi luôn được các anh mời sang chơi khi có thuốc, chè và nhất là khi sửa chữa casete cho dân các anh thường để lại nghe ít hôm (ngày đó casete là đồ quý hiếm) có lẽ cũng là lần đầu tôi được nhìn và được nghe các bài hát từ băng casete. Lại được các anh kể, tả về các ca sỹ hát các tác phẩm đó làm tôi càng say mê. Ở tổ nguồn có anh Sản người Hà Bắc, anh Hợi người ở Vân Đình, Hoài Đức, Hà - Sơn - Bình (nay là Hà Nội) hai anh hát đều rất hay nhất là anh Hợi vừa hát lại vừa đánh đàn giỏi và anh thuộc rất nhiều bài hát. Từ đó buổi chiều lúc nào rảnh rỗi tôi lại nhờ anh Hợi chỉ bảo đánh đàn và chép các bài hát của anh, một thời gian sau tôi chép được khá nhiều bài và nhờ anh điền nốt nhạc vào để tôi tự tập. Ở Đại đội có rất nhiều đàn Ghi ta vừa của tập thể và của cá nhân nên khi mượn cũng rất thuận lợi. Thế rồi mùa xuân đã về lần đầu tiên ăn tết xa nhà, xa quê lại ở một nơi hẻo lánh, rừng rú không một bóng dân cư nên cảm giác và nỗi nhớ thật vô vàn, nghe mấy anh đánh đàn hát trộm mấy bài nhạc vàng (ngày đó nhạc vàng bị cấm) trong đó có bài “Xuân này con không về” nghe mà chỉ trực khóc. Tiêu chuẩn tết ngày đó cũng đơn giản một chiếc bánh trưng, vài lạng thịt, bao thuốc lá, gói chè sen, nửa hộp mứt trên một đầu người, rượu thì cũng ít nhưng tôi không quan tâm lắm vì không uống được nhiều. Mấy ngày tết yêu cầu trực sẵn sàng chiến đấu rất cao đơn vị cấm trại cứ quanh quẩn trong doanh trại nên nỗi buồn và nhờ nhà càng nhiều, được cái từ ngay vào đơn vị mới, được ở gần anh Sứ người cùng quê anh em hay qua lại thăm nhau nên cũng giải tỏa bớt đi nỗi buồn. Ngày mồng 3 tết chỉ huy đại đội cho liên lạc gọi tôi lên đưa cho hai bức điện và một lá thư do các chị ở quê gửi cho tôi, lá thư gửi cách đó mấy tuần, còn hai bức điện cũng cách hơn 10 ngày được các anh Đại đội giải thích tết nên bưu điện họ chuyển muộn. Tôi xem hai bức điện nội dung như nhau nói là “Nếu anh Chương bị tai nạn đừng giấu gia đình”, tôi bóc lá thư của chị Chung gửi và xem trong thư chị nói nghe người ta đồn Chương (anh trai tôi) lái xe hành quân vì đi gần biên giới không được bật đèn trời tối nên xe lao xuống vực và chết rồi; ở nhà không biết thế nào và bảo tôi ở trên đó xin phép đơn vị đến xem tình hình và báo ngay cho gia đình. Trình bày được chỉ huy cho phép vượt quãng đường hơn 20 km tôi đến Trung đoàn 174 nơi anh Chương đóng quân, khi nghe tôi trình bày, đồng chí trực ban hỏi họ tên anh tôi và hỏi quê quán xong đồng chí trực ban cười và nói chết đâu mà chết, kia kìa ông ấy đang ở nhà xe đấy, tôi nhìn theo thấy thấp thoáng mấy bóng người và đồng chí trực ban nhắc đồng chí gác cổng cho tôi vào gặp người nhà. Từ cổng gác đến dãy nhà xe không xa, tôi đi thẳng vào chỗ anh đang đứng và gọi: anh Chương, anh quay lại nhìn tôi và hỏi Quyết hả, tôi bật khóc và ôm lấy anh, anh bảo sao thế? Tôi không nói được lấy điện và thư đưa cho anh xem, và anh kể đúng là có chuyện xe anh bị nghiêng nhưng không đổ. Chả là dịp cuối năm diễn tập, xe anh chở chỉ huy và cơ quan Trung đoàn đi trinh sát thực địa chẳng may bị dệ xuống sau đó phải có xe khác kéo mới lên được và anh nói em yên tân đi anh đã báo về gia đình rồi.
Tháng 7 năm 1982 tôi được bổ nhiệm làm Tiểu đội trưởng thuộc Trung đội 4, trung đội vô tuyến điện. Những thử thách khi tôi chấp nhận làm tiểu đội trưởng ở một Trung đội gọi là “nhiều phức tạp” từ một chiến sỹ phổ thông, một người nấu cơm, chăn lợn trong một đại đội dám đảm nhận một cương vị cán bộ, tuy thực hiện không có gì xuất sắc tiêu biểu nhưng tiểu đội của tôi tuyệt đối không có mâu thuẫn gì và không có điều tiếng gì, liên tục các tuần, các tháng được trung đội, đại đội biểu dương trong điểm danh, trong chào cờ và cuối năm 1982 tôi được tặng giấy khen và tết năm đó tôi được thưởng phép. Thật là không có gì vui bằng khi được về thăm nhà, thăm quê, lần đầu tiên sau gần hai năm với biết bao đổi thay vì từ một người thanh niên quê mùa, ngờ nghệch nay ít nhiều tôi cũng đã có sự hiểu biết và hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thành trong chức trách cán bộ chỉ huy (tiểu đội) mà cấp trên giao phó.



