KÝ ỨC NGƯỜI CỰU CHIẾN BINH
Tôi quen biết ông từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước. Khi đó, tôi công tác ở Ban Biên giới tỉnh Hoàng Liên Sơn đóng ở Phố Lu rồi chuyển công tác sang Huyện ủy Bảo Thắng, ông là huyện đội phó Huyện đội Bảo Thắng (Ban Chỉ huy quân sự huyện). Cuộc đời ông - Thiếu tá Hoàng Duy Xuyên, người lính đã đi qua hai cuộc chiến tranh: Chống Mỹ cứu nước và bảo vệ biên giới Tây Nam bộ, biên giới phía Bắc Tổ quốc, gắn bó với bộ quân phục cho đến khi nghỉ hưu (1/10/1990), mấy nhiệm kỳ làm Chủ tịch Hội Cựu chi
Mỗi lần gặp nhau, chúng tôi hàn huyên về quê hương, gia đình, tôi thường gợi chuyện để ông kể lại những tháng ngày chiến trận gian nan trong Nam, ngoài Bắc, những lần bị thương ở Đắc Xiêng (4/1970), Ngọc Linh Rua (3/1971), Đắc Tô - Tân Cảnh (4/1972), Ngọc Bay - Ngọc Quăn (6/1972). Ông bảo tuy bị thương nhiều lần nhưng ông còn may mắn hơn rất nhiều đồng đội đã không bao giờ được trở về với gia đình, quê hương. Khi nói về những nguy nan trong chiến trận, ông rưng rưng nhắc tên từng đồng đội đã hy sinh. Chất lính của chàng trai “rừng cọ, đồi chè” xã Gia Điền, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ - nơi nhà thơ Tố Hữu viết bài thơ “Bầm ơi” trong kháng chiến chống Pháp vẫn còn đậm nét trong cách giao tiếp chân tình của người cựu chiến binh đã ngoài tuổi bát tuần. Ông bảo chính những năm tháng xông pha trận mạc, trước những mất mát hy sinh của đồng đội và những lần bị thương đã cho ông thêm niềm tin để chiến đấu, mong ngày trở về. Ông bồi hồi kể về ngày về thăm gia đình,vừa bước xuống tàu hoả ở ga Ấm Thượng, tình cờ gặp lại người yêu từ những ngày ông sắp sửa lên đường “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Cuộc gặp bất ngờ khiến ông ngỡ ngàng, xao xuyến gợi nhớ lại những dòng chữ trong lá thư ông viết cho em khi đang chiến đấu ở biên giới Tây Nam: “Chiến tranh Việt Nam đã kết thúc, song người lính đang còn phải chịu đựng gian khổ hy sinh vì nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và nghĩa vụ quốc tế cao cả, không biết đến bao giờ chúng mình mới được gặp nhau. Người con gái có thì, em thật sự thông cảm cho anh, em nhé. Biết đâu anh không còn để được trở về với em nữa... Thương em! Thương em rất nhiều nhưng anh không muốn như vậy. Em đừng chờ anh nữa...”. Để có được quyết định ấy, ông đã phải trăn trở rất nhiều, có những lần nằm dưới hầm ngoài mặt trận nhớ và thương người yêu đang đợi chờ mình trở về, nhưng không thể vì tính ích kỷ của mình để em lỡ thì làm vợ, làm mẹ. Tình yêu của người lính là vậy, yêu thật nhiều, thương thật lắm nhưng vẫn biết hy sinh tình cảm của riêng mình để người thương yêu được hạnh phúc.
Quen nhau lâu thế nhưng tôi không hề biết ông yêu thơ và làm thơ. Mãi đến bây giờ, khi cả hai đã ngoài tuổi “xưa nay hiếm”, ông mới ngập ngừng đọc thơ của mình cho tôi nghe. Ông ngại ngùng bảo những dòng ông viết chưa thể gọi là thơ, ông viết để giải tỏa nỗi niềm, ghi lại những cảm xúc mỗi khi ký ức buồn vui ùa về trong tâm trí. Ông viết cho riêng mình. Bây giờ, tuổi đã cao cũng cần được chia sẻ nên những lúc vui, ông đọc cho bạn bè nghe để khây khoả tâm tư. Thật chân tình, mộc mạc như cuộc đời quân ngũ vào sinh ra tử của ông, bởi ông quan niệm “Thơ là chân lý niềm tin/ Thơ trong nhân thế cho tim dạt dào/ Thơ là muôn vạn vì sao/ Thơ là khúc triết gieo vào hồn ta” (Hồn thơ). Muốn hiểu về ông, chỉ cần đọc bài thơ “Đời tôi”, viết nhân ngày sinh nhật lần thứ sáu mươi của mình. Bài thơ kể lại từ lúc “Tuổi thơ sống ở quê mình/ Vui cùng bè bạn học hành ở quê”, lớn lên trở thành người lính vào Nam đánh Mỹ: “Nước nhà gặp cảnh chiến tranh/ Nghe lời Đảng gọi quân hành Trường Sơn”, đến ngày non sông thu về một mối, ông lại cùng đồng đội chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, giúp đất nước Cămpuchia khỏi họa diệt chủng, lên tuyến đầu biên giới phía Bắc: “Chiến trường lại tiếp chiến trường/ Mường Khương chiến sự ai lường được đâu”, đến khi: “Chiến sự xong tôi về Bảo Thắng” làm phó chỉ huy quân sự huyện đến ngày nghỉ hưu để “Về làm người cựu chiến binh quê nhà” và “Bây giờ ta đã lên ông/ Vui cùng con cháu về đông cửa nhà”. Bài thơ dài gần hai trăm câu theo thể lục bát với câu kết: “Thật là hạnh phúc biết bao/ Niềm vui người lính chiến hào năm xưa”. Tuy mang tính diễn ca nhưng đó là bài tổng kết cuộc đời của ông, tôi gọi vui là bản trường ca cuộc đời. Ông tâm sự: “Mặc dù cuộc sống đã trở sang môi trường sinh hoạt mới, song không lúc nào tôi quên được những ký ức của một thời trai trẻ. Không lúc nào tôi quên được những kỷ niệm sâu sắc trong đời bộ đội”.Những tháng ngày ấy đã được ông ghi lại trong cuốn hồi ký “Những kỷ niệm sâu sắc trong đời bộ đội” của mình. Đầu tập hồi ký, Hoàng Duy Xuyên trải lòng: “Tác giả - người lính già - trong cuốn hồi ký này, hôm nay không tham vọng và cũng không thể nói hết được những kỷ niệm mà tác giả đã đi qua, đã từng được chứng kiến, nhất là khi còn ở chiến trường Tây Nguyên và suốt cả chặng đường trọn đời trong quân ngũ”.
Hồi ký của ông ghi khá kỹ theo từng chặng thời gian, từ những ngày đầu nhập ngũ, hành quân vào Nam, những trận chiến đấu quyết liệt ở mặt trận Tây Nguyên, biên giới Tây Nam bộ, biên giới phía Bắc, xen vào đó là những suy tư của người lính đối với quê hương, đối với người thân, đối với tình yêu sâu nặng với người con gái trăm thương ngàn nhớ nơi quê nhà qua những lá thư viết ở tiền tuyến và những lời tâm sự bằng thơ. Tình cảm ấy đã nhân lên tinh thần chiến đấu góp phần giải phóng nước nhà khỏi ách xâm lăng, giữ vững biên giới thiêng liêng của Tổ quốc, mong mỏi được trở về với quê hương, đoàn tụ cùng gia đình, gặp người yêu đang năm đợi tháng chờ trong cảnh đất nước thanh bình. Đọc hồi ký của ông, tôi hiểu thêm về ông, về những gian khổ, mất mát, hy sinh mà người lính phải chịu đựng trong chiến tranh, khơi dậy trong tôi thêm khâm phục, biết ơn các thế hệ “Bộ đội Cụ Hồ”.



