Ký ức người lính
Trong hành trình dựng xây và bảo vệ Tổ quốc, biết bao thế hệ thanh niên Việt Nam đã sẵn sàng rời mái nhà tranh bình yên, bước vào chiến trường đầy bom đạn để đánh đổi tuổi trẻ cho hòa bình hôm nay. Có những con người bình dị, không xuất hiện trong sách giáo khoa, không có tên trên bia đá, nhưng những năm tháng chiến đấu của họ vẫn âm thầm trở thành chứng nhân lịch sử.
Giữa hàng triệu người lính đã đi qua cuộc chiến, câu chuyện về ông Nguyễn Văn Tổng, sinh năm 1954, quê tại Triệu Việt Vương, Khoái Châu, Hưng Yên, là một mảnh ghép chân thật và xúc động về tuổi trẻ, lý tưởng và sự hy sinh. Từ một cậu học trò còn dang dở giấc mơ giảng đường, ông đã khoác lên mình màu áo lính, vượt qua những tháng ngày dữ dội nhất của cuộc kháng chiến chống Mĩ. Hành trình ấy không chỉ là kỷ niệm chiến tranh, mà còn là bài học sâu sắc về lòng yêu nước và bản lĩnh con người Việt Nam.
Sinh ra giữa thời kỳ đất nước còn chia cắt, ông Nguyễn Văn Tổng lớn lên trong tiếng trống trường xen lẫn tiếng máy bay gầm rú ngoài bầu trời. Khi vừa học đến cấp 3, ở tuổi 17 – cái tuổi còn lắm mơ mộng, ông nhận được lệnh nhập ngũ.
Dẫu trong lòng còn hoài bão học hành, vẫn đang dở dang con đường đến giảng đường đại học, nhưng tiếng gọi Tổ quốc đã khiến cậu thanh niên Hưng Yên dứt khoát rời mái nhà, bỏ lại sau lưng sự chăm chút của gia đình và nỗi nhớ quê hương. Ngày lên đường, ông mang theo không chỉ balo và bộ quân phục còn mới, mà mang theo cả lý tưởng giải phóng dân tộc, niềm tin mãnh liệt rằng hòa bình sẽ phải đến – dù phải trả giá bằng máu.
Ông được biên chế vào lực lượng thông tin, đảm nhiệm công việc nối liên lạc từ đơn vị đến sở chỉ huy, một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng để đảm bảo mệnh lệnh không bị gián đoạn trong lúc chiến đấu. Trên đường hành quân vào Nam, ông chứng kiến những đoàn quân nối dài trong màn sương, những người lính trẻ mang khẩu súng nặng hơn cả trọng lượng của những ước mơ tuổi trẻ. Và khi đặt chân đến chiến trường miền Nam, ông mới thấm thía thế nào là khốc liệt.Ông có một người bạn tên Võ Liên Hoan người Thanh Hóa, 2 ông ở cùng một đài. Trong lúc làm nhiệm vụ, người đồng chí luôn kề cạnh ông không may bị thương, ông phải vừa dìu bạn vừa làm nhiệm vụ của mình “dù mệt nhưng tôi vẫn phải tiến về phía trước, tiến về nơi có ánh sáng, có độc lập tự do, nơi có tương lai không tiếng bom đạn” ông nói. Ông từng tham gia trong đội hình tác chiến tại khu vực Thành cổ Quảng Trị – nơi được mệnh danh là “cối xay thịt” của chiến tranh. Từ 28/6/1972 đến 16/9/1972, suốt 81 ngày đêm, Thành cổ chìm trong đạn pháo, trung bình mỗi ngày Mỹ dội xuống khoảng 20.000 quả đạn. Đó là những tháng ngày mà ông Tổng không thể quên:
Đồng đội ngã xuống từng ngày, có người chỉ mới 18–19 tuổi; dưới bom vùi, đạn xé, người lính chỉ kịp “làm cho xong nhiệm vụ, giữa dẫm vào những người đi trước để học hỏi kinh nghiệm” như lời ông từng kể; có những khoảnh khắc phải ngâm mình dưới nước sông Thạch Hãn đỏ ngầu phù sa và máu để tránh pháo sáng. Ở nơi khốc liệt ấy, sự sống và cái chết gần nhau đến mức chỉ một tích tắc sai lầm cũng có thể không bao giờ trở về.
Tổng tiến công và nổi dậy tại Sài Gòn
Nguồn: Báo Lạng Sơn
Giai đoạn 1974–1975, ông cùng đơn vị tiếp tục hành quân về phía Nam, tham gia chiến dịch giải phóng miền Nam. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (bắt đầu ngày 26/4/1975), đơn vị ông tiến vào Sài Gòn theo hướng lực lượng phía Đông.
Tại ngã ba Cầu Dây, nơi từng là điểm chốt của lính ngụy, ông bị thương trong một trận giao tranh ác liệt. Mảnh đạn găm vào vai và ngực khiến ông ngã xuống giữa tiếng súng đạn dồn dập. Đồng đội của ông – những người tuổi chỉ đôi mươi – đã có người ngã lại ở đó, mãi mãi nằm xuống trước khi kịp nhìn thấy ngày đất nước toàn thắng. Ông được đưa về bệnh viện Sài Gòn cứu chữa, trải qua những ngày dài giữa ranh giới của sự sống. Dù đau đớn, ông luôn nhắc: “Còn may là mình được trở về, còn nhiều người không có cơ hội ấy.”
Những ký ức không thể nguôi
Trong suốt những năm tham gia chiến đấu, điều khiến ông day dứt nhất chính là hình ảnh những đồng đội đã hy sinh: có người là bạn cùng làng, có người vừa mới quen nhưng chỉ kịp gọi nhau bằng cái tên thân mật trước khi nằm lại chiến trường.
Ông nhớ những bữa cơm vội vã chỉ có nắm cơm và ít muối rang, nhớ khoảnh khắc cả đơn vị lặng người khi nghe tin một chiến sĩ thông tin khác mất liên lạc mãi mãi. Những hình ảnh ấy không thể phai mờ, trở thành vết hằn trong ký ức mỗi khi ông nhắc lại.
Sau chuỗi ngày không ngừng cố gắng, kiên cường và bất khuất của những đồng chí dù chẳng quen biết nhau được bao lâu nhưng một lòng sát cánh chung sức dành lại độc lập thống nhất đất nước, họ đã tiến đến cái ngày trọng đại, quyết định thắng bại của quân ta.
Hình ảnh xe tăng 390 tông cổng dinh độc lập ngày 30/4/1975
(Nguồn:Internet)
Sáng Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975, bầu trời trong xanh một cách lạ lùng, nhưng bên dưới là nhịp thở gấp gáp của thời khắc lịch sử. Đoàn tăng của Lữ đoàn 203, Quân đoàn 2, sau khi vượt qua những chốt kháng cự cuối cùng, đang tiến thẳng vào trung tâm thành phố. Dẫn đầu là hai chiếc xe tăng mang số hiệu 843 và 390, tiếng động cơ gầm rú vang vọng giữa những con đường vắng người. Lúc ấy trong lòng mỗi chiến sĩ đều căng như dây đàn.
Từ cửa kính nhỏ trước mặt, lái xe tăng 390 — người chiến sĩ trẻ Nguyễn Văn Tập — chỉ nhìn thấy khói bụi, cành cây quệt vào thép, và những toà nhà của Sài Gòn đang lùi về sau. Trên tháp pháo, kíp trưởng Vũ Đăng Toàn quan sát từng góc, từng ngả rẽ, giọng dứt khoát:“Cứ hướng Dinh mà tiến!”
Đoàn tiến qua đường Công Lý, rồi dồn dập áp sát về phía Dinh Độc Lập.
Gần 11 giờ trưa, không khí nóng nực, lẫn mùi khói và mùi dầu máy. Những người dân hai bên đường lấp ló nhìn ra, có người bật khóc, có người đưa tay vẫy, tiếng gọi “Bộ đội kìa!” vang lên yếu ớt giữa im lặng của một thành phố đang nín thở. Khi đoàn tăng đến trước cổng sắt lớn của Dinh, chiếc 843 lao lên trước. Chỉ huy Bùi Quang Thận trong xe liên tục ra lệnh điều chỉnh góc tiến. Xe 843 tăng tốc và đâm vào cổng phụ bên phải, tiếng va chạm giữa chiếc xe mang hy vọng, tương lai và cánh cổng trở ngại.
Nhưng cú đâm không thành công — chiếc 843 bị mắc lại ngay mép cổng, không tiến thêm được nữa. Bụi thép, lá cây và tiếng động cơ nghẹt lại khiến khoảnh khắc càng căng thẳng.
Bên trong xe 390, chỉ huy Vũ Đăng Toàn ra lệch húc thẳng vào cổng để mở đường. Tiếng động cơ gầm lên như một con thú thép bị dồn nén quá lâu. Chiếc xe tăng 390 lao tới, rung lắc dữ dội. Cánh cổng sắt dày, cao gần 4 mét của Dinh chỉ kịp bật tung bản lề rồi đổ sập xuống, kéo theo âm thanh ầm ầm như sấm.Trong khoảnh khắc đó, ai trong xe cũng biết:
Cánh cửa của một thời đại cũ vừa đổ xuống.
Chiếc xe 390 tràn vào sân, để lại sau lưng bụi đường, tiếng kim loại nóng chảy và âm thanh vỡ òa của chính thời khắc lịch sử. Ngay khi xe dừng, các chiến sĩ nhảy xuống. Một dòng người áo xanh lao về phía bậc tam cấp của Dinh. Ở phía sau, dù xe 843 bị kẹt, chỉ huy Bùi Quang Thận vẫn ôm lá cờ lớn của Mặt trận Giải phóng, chạy thẳng vào bên trong. Lúc ấy, tiếng chân giẫm lên nền đá, tiếng thở dốc, tiếng bộ đàm rè rè xen lẫn cảm giác nghẹn ngào:“Nhanh lên! Ta phải giành cờ!”Ở phòng khánh tiết, Tổng thống của chính quyền Sài Gòn tuyên bố đầu hàng. Và chỉ vài phút sau, lá cờ mang màu xanh – đỏ – vàng sao đã được cắm lên nóc Dinh, tung bay giữa nắng trưa.
Và như vậy—trong tiếng gầm của động cơ thép, trong bước chân dồn dập của những người lính còn rất trẻ—chiếc xe tăng 390 đã trở thành biểu tượng. Không phải vì nó mạnh hơn xe khác. Mà vì nó là cú húc cuối cùng mở ra cánh cửa của hòa bình, kết thúc một cuộc chiến kéo dài hơn 20 năm.
Sau khi thống nhất đất nước, ông trở về với quê nhà và bước tiếp trên con đường thực hiện ước mơ vào đại học của mình. Ông yêu cái học, ông muốn cống hiến tri thức của mình cho sự phát triển nước nhà. Nhưng sau nhiều năm, kiến thức đã được cải tiến, ông không thể chạy theo kịp kiến thức của thời đại mới mặc dù bản thân ông đã rất cố gắng. Rồi ông đưa ra quyết định cuối cùng, ông lựa chọn dừng lại việc cố chạy theo một thứ mãi mình không có được, thay vào đó là dõi theo lớp trẻ lớn lên và phát triển từng ngày.
Chúng em đến thăm và nghe kể về lịch sử giải phóng dân tộc của cựu chiến binh với tâm thế biết ơn, kính trọng và ngưỡng mộ sự can đảm hy sinh không màng hiểm nguy của các người lính cụ Hồ
Hình ảnh học sinh trường THPT Trần Quang Khải và ông Nguyễn Văn Tổng



