Bài viết

KÝ ỨC NGƯỜI LÍNH TÊN LỬA

Được nghe Cựu chiến binh Hoàng Đạo hiện đang sinh sống tại Tổ Dân phố Minh Tân 3, phường Yên Bái, kể chuyện về những trận đánh của đơn vị ông trong dịp Kỷ niệm 52 năm Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” trên bầu trời Hà Nội trong những ngày tháng Chạp năm 1972, mà ông là một phần của lịch sử, nhân chứng trực tiếp tham gia cuộc chiến đấu oanh liệt của “Bộ đội tên lửa” (Quân chủng Phòng không - Không Quân) bảo về bầu trời miền Bắc trong những năm kháng chiến chống Mỹ.

Lào Cai08/12/2025Lại Tấn (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Các cơ quan Đảng tỉnh Lào Cai)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Gặp ông tại nhà riêng, khi đó ông Đạo đang cặm cụi, lúi húi bên mấy luống rau nhỏ trước sân nhà

- Cháu chào chú... chú cấy rau gì đấy ạ?

Thấy tôi chào; ông dừng tay quay lại.

- Tấn hả! Cấy mấy cây rau cải thôi mà... vào nhà đi, ông vui vẻ mời. Cùng là hội viên Cựu chiến binh, sinh hoạt chung tại Chi hội nên cuộc gặp gỡ giữa tôi với ông cũng có phần dân giã, nhưng khi tôi đặp vấn đề muốn viết về ông, một Bộ đội Cụ Hồ tỉnh Lào Cai, ông thoáng suy nghĩ rồi khéo từ chối.

- Chú già rồi, nghỉ công tác xã hội lâu rồi có gì đâu mà đáng viết hả cháu.

- Chú ơi, chú vẫn là cựu chiến binh Bộ đội tên lửa cơ mà... Khi tôi gợi mở nội dung câu chuyện như chạm đến ký ức về một thời “hoa-lửa” của mình, ông Đạo đã vui vẻ nhận lời rồi kéo tay tôi cùng vào nhà, với tình cảm “chú-cháu”, tình cảm của người đồng đội tuy khác thế hệ, như đúng tính cách gần gũi, thân mật hằng ngày mà ông vẫn dành cho tôi.

Trong căn nhà căn nhà cấp 4 nhỏ bé, có lẽ được xây dựng vào những thập niên cuối của thế kỷ trước, nhưng gọn gàng, ngăn nắp, bình dị như chính chủ nhân của nó, thật ấm cúng trước những ngày đầu của đợt gió mùa Đông - Bắc đến sớm. Bên ấm trà nóng, ông chậm rãi khoác lại chiếc áo ấm mỏng và đưa tôi về miền ký ức của ông gắn liền những năm tháng đầu tiên giặc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc.

Cựu chiến binh Hoàng Đạo sinh năm 1944 và lớn lên tại Mễ Sở - Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (cũ), năm 1961 học xong lớp 8 (hệ 10/10) ông xin đi công tác, làm nhân viên tại Bách hoá tổng hợp Tràng Tiền - Hà Nội, có thể nói đây là vị trí việc làm “hoàng kim” của cán bộ, công nhân viên nhà nước trong thời kỳ bao cấp. Nhưng đối với ông, nguyện vọng cũng như bao bạn bè cùng trang lứa là được cầm súng, lên đường đánh Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Sau bao lần làm đơn tình nguyện nhập ngũ, nhưng nguyện vọng vẫn không thành vì một lý do thật là đơn giản, cân nặng chỉ 44 - 45 kg, không bảo đảm sức khoẻ phục vụ quân đội.

- Phải đến đầu năm 1965 cháu ạ. Ông nhìn tôi, với nụ cười pha chút dí dỏm, ông Đạo nói tiếp. - Khi ấy chú đã 21 tuổi nhưng mới tạm đủ chiều cao, cân nặng, để được nhập ngũ đấy.

Cùng với niềm vui được cầm súng lên đường đánh giặc, niềm vui còn nhân đôi, không ngờ tới và vô cùng tự hào đối với ông đó là, do có trình độ văn hoá so với lớp tân binh bấy giờ, ông được tuyển chọn về Quân chủng Phòng không - Không quân, biên chế vào Đại đội 1, Tiểu đoàn 72, Trung đoàn 285, Sư đoàn 363 chiến đấu bảo vệ bầu trời miền Bắc với loại vũ khí hiện đại nhất, đó là “tên lửa SAM-2”. Đây cũng là thời điểm Đế quốc Mỹ bắt đầu gây hấn, leo thang đánh phá miền Bắc xã hội chủ nghĩa một cách khốc liệt hòng đè bẹp hậu phương lớn miền Bắc, nơi chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Sau hơn 3 tháng, vừa huấn luyện theo giáo trình huấn luyện chiến sỹ mới, vừa huấn luyện kỹ thuật chuyên sâu sử dụng khí tài quân sự hiện đại; với phương châm “vừa học, vừa sẵn sàng đánh địch”, bằng phương pháp “cầm tay, chỉ việc” của các chuyên gia quân sự Liên Xô, kết hợp học lý thuyết tính năng, nguyên lý hoạt động, phương pháp điều khiển tên lửa được các sỹ quan học từ Liên Xô trở về hướng dẫn, sau khoá huấn luyện ông được chọn vào vị trí trắc thủ điều kiển góc tà của kíp trực chiến 4 người trên một cabin xe điều khiển. Thời gian huấn luyện trôi nhanh, đơn vị liên tục cơ động, xây dựng trận địa thật, trận địa giả, từ Gia Lâm - Hải Dương - Hải Phòng - Quảng Ninh... đến ngày 25/12/1965, Bộ Tư lệnh Quân chủng chính thức giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 285 bảo vệ mục tiêu chủ yếu ở khu vực Hải Dương -Hải Phòng, trong đó Tiểu đoàn 72 chiếm lĩnh trận địa tại Trâu Quỳ cùng với 3 đại đội pháo phòng không 37mm và 3 trung đội súng máy phòng không 14,5mm được triển khai trong đội hình chiến đấu bảo vệ tiểu đoàn tên lửa. Giữa lúc đơn vị đang khẩn trương chuẩn bị chiến đấu, ngày 9/1/1966 Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đến thăm động viên Tiểu đoàn 72, sau khi kiểm tra công tác sẵn sàng chiến đấu, Đại tướng ân cần thăm hỏi tình hình đơn vị đông thời chỉ thị một số nội dung tác chiến của bộ đội tên lửa và hạ quyết tâm đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên bầu trời miền Bắc. Vinh dự của tiểu đoàn được Bộ trưởng đến thăm, thay mặt toàn thể cán bộ, chiến sỹ Tiểu đoàn 72, Chính trị viên Đỗ Đăng Khôi đã hứa với Đại tướng “Tiểu đoàn quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu sắp tới, quyết đánh và đánh thắng”.

Ký ức của Cựu chiến binh Hoàng Đạo như ùa về những năm tháng cùng đồng đội trực tiếp tham gia đánh địch, ông sôi nổi kể tiếp: Cuối tháng 2/1966, địch tăng cường hoạt động phía Tây - Nam Hà Nội. Sau bao ngày vào cấp một, các kíp chiến đấu đeo bám mục tiêu nhưng điều kiện chưa cho phép đánh, phải đến ngày 3/3/1966, khi đã nắm khá rõ quy luật hoạt động của địch, Tiểu đoàn 71 của sư đoàn đã tổ chức đánh địch và bắn rơi tại chỗ một chiếc F105, đây là chiếc máy bay Mỹ đầu tiên bị tên lửa của Sư đoàn 285 bắn rơi. Với khí thế ra quân là đánh thắng của sư đoàn; hai ngày sau (ngày 5/3/1966) tại trận địa Tiền An - Quảng Yên - Quảng Ninh, Tiểu đoàn 72 đã lập công với một kíp chiến đấu, bằng một quả đạn đã bắn rơi một máy F105 địch tại cửa Nam Triệu - Hải Phòng. Với chiến công đầu xuất sắc của Tiểu đoàn 72 trên vùng cửa biển, Trung đoàn 285 đã được mang phiên hiệu ĐOÀN NAM TRIỆU, đây là vinh dự lớn của tiểu đoàn 72 mang đậm dấu ấn trận đầu đánh thắng.

Phát huy chiến công, ngày 8/5 1966, khi địch đánh vào cầu Cầm, tại trận địa Bí Thượng, chỉ với hai quả đạn, Tiểu đoàn đã bắn rơi một máy bay cường kích của địch, chiếc máy bay này ra đến đảo Con Lợn thì rơi xuống biển, phi công địch nhảy dù nhưng ta không kịp bắt sống... Bằng nhiều cách đánh linh hoạt, liên tục bí mật di chuyển trận địa, di chuyển địa bàn hoạt động, trong 23 trận đánh điển hình của Đoàn Nam Triệu thì Tiểu đoàn 72 có tới 8 trận, những trận đánh này có ý nghĩa đặc biệt và là kỷ niệm không thể nào quên của cán bộ, chiến sỹ trong toàn tiểu đoàn, đó là: Trận đánh ngày 20/7/1966, với quyết tâm bắn rơi máy bay gây nhiễu ngoài đội hình, sau khi Đài 2 phát sóng phát hiện máy bay địch bay ra trên nền nhiễu nhẹ. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Lan quyết định bắn đuổi chiếc EB-66, lệnh phóng 2 quả, khi trắc thủ bám sát ổn định, đạn nổ, chiếc máy bay EB-66 bị bắn rơi tại chỗ ở gần Km5, Bình Ca (Tuyên Quang), giặc lái bị bắt sống. Đây là loại máy bay EB-66 đầu tiên bị bắn rơi trên bầu trời miền Bắc, đã tạo điều kiện cho Quân chủng hiểu biết thêm về trang bị gây nhiễu ngoài đội hình của địch để có biện pháp đối phó với địch sau này. Đặc biệt là trận đánh ngày 5/8/1966, Tiểu đoàn 72 đánh 2 trận, phóng 4 quả đạn, diệt 2 máy bay A3-J của địch, trong đó chiếc rơi ở Kinh Môn (Hải Dương) là chiếc máy bay thứ 50 bị quân và dân Hải Phòng bắn rơi. Chiến công này được Bác Hồ gửi thư khen.

Trận đánh lúc buổi chiều ngày 25/4/1967, là trận đánh khó quên đối với trắc thủ Hoàng Đạo. Theo đài quan sát của trên, địch liên tiếp cho 68 máy bay gồm: A.4, F.4, F.8 liên tục đánh vào Hải Phòng, Tiểu đoàn tại Cát Bi của ông là nơi trực tiếp bị gây nhiễu các loại của địch, nhất là nhiễu tích cực, mục tiêu giả ngoài đội hình, với tinh thần chiến đấu mưu trí, sáng tạo, ứng phó với thủ đoạn gây nhiễu ngoài đội hình, Tiểu đoàn trưởng Trịnh Đình Xuyên, sỹ quan điều khiển Trần Ngọc Diệp, cùng kíp trắc thủ Nguyễn Văn Quỳnh, Hoàng Đạo, Đặng Văn Kiền đã phát hiện chính xác mục tiêu trên nền giải nhiễu và nhiễu râu...Lệnh phóng đạn 2 quả, mục tiêu biến mất trên màn hiện sóng, kíp chiến đấu đã bắn rơi một máy bay A.4. Trong đợt chiến đấu từ ngày 20 đến ngày 26/4/1967, toàn Trung đoàn 285 đã bắn rơi 13 máy bay địch, nhiều đơn vị được biểu dương khen thưởng, riêng Tiểu đoàn 72 của ông được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng Ba

Tiếp đó, ngày 15/4/1968, Kíp chiến đấu trong đó có trắc thủ góc tà Hoàng Đạo thuộc biên chế Đại đội 1, Tiểu đoàn 72 tại trận địa gần cửa sông Vân Úc, phà Rừng, sông Cấm (Hải Phòng). Máy bay trinh sát của địch lợi dụng nơi đây có dãy núi Yên Tử phía Bắc, gần biển, nhiều cửa sông, chúng cho máy bay bay thấp tạo đường bay “vẹt” vào trinh sát gây cho ta khó phát hiện được mục tiêu và không kịp thao tác tiêu diệt. Với quyết tâm tiêu diệt loại máy bay trinh sát tầm thấp của địch, các kíp trắc thủ luyện tập đánh nhanh theo phương án tác chiến đường bay vẹt; Đài 1 (P12) được tôn cao để phát hiện mục tiêu xa hơn. Khoảng 15h00 phát hiện hoạt động của máy bay địch, đơn vị được lệnh vào cấp một. Trực chỉ huy là Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đình Thi, Đại đội 1 là đồng chí Nguyễn Xuân Chinh, sỹ quan điều kiển Nguyễn Văn Dựng, kíp trắc thủ gồm: Cự ly Nguyễn Văn Huyên, góc tà Hoàng Đạo, phương vị Đặng Văn Kiền. Dừng câu chuyện lại một chút, ông Đạo đưa cho tôi xem một cuốn sổ ghi chép của ông đã bạc màu qua hơn nửa thế kỷ, trong đó ông còn ghi lại tỉ mỉ, trung thực về không gian, thời gian, diễn biến và kết quả trận đánh. Minh chứng cho sự kiện không thể nào quên về trận đánh ấy, ông kể tiếp: Kíp chiến đấu vừa kiểm tra chức năng xong, Đài 1 thông báo máy bay trinh sát tầm thấp của địch cách trận địa 26km; lệnh phát sóng sục sạo, sĩ quan điều kiển cùng ba trắc thủ căng mắt trên màn hiện sóng tìm mục tiêu giữa tín hiệu địa vật phản xạ báo về... Đài 1 tiếp tục thông báo mục tiêu cách 16 km, lúc này ba trắc thủ cùng sỹ quan điều khiển cùng hô: Mục tiêu! Độ cao 400m. sỹ quan điều kiển trao tay quay cho kíp trắc thủ cự ly và góc tà bám sát tự động. Lệnh tiểu đoàn trưởng: Đạn một quả, cự ly 13km; Phóng! Sỹ quan điều kiển ấn núp phóng và hô khẩu lệnh dứt khoát, kíp trắc thủ tiếp tục bám sát. Đạn điều khiển tốt!...Đạn nổ. Trên màn hiện sóng, đạn nổ trùm lên mục tiêu ở cự ly gần 9 km. Sỹ quan điều khiển và các trắc thủ báo mất mục tiêu. Tiểu đoàn báo cáo cấp trên mục tiêu đã bị tiêu diệt, ngay sau đó Trung đoàn đã cử tổ trinh sát, sỹ quan tham mưu đến toạ độ Tiểu đoàn báo cáo nơi máy bay địch rơi và thu được nhiều thiết bị quan trọng của loại máy bay không người lái, trong đó có cả hộp phim đường kính 25cm và cả một chiếc dù to mà máy bay địch dùng để hạ cánh khi về căn cứ. Đây là chiếc máy bay trinh sát tầm thấp 147.J đầu tiên bị Tiểu đoàn 72 bắn hạ, với cách đánh nhanh, hiệu quả cao, kíp chiến đấu đã được Trung đoàn biểu dương và phổ biến cách đánh trong toàn Trung đoàn.

Cầm chén nước trên tay, ông nhấp một ngụm nhỏ, rồi câu chuyện như trùng lại khi ông kể tiếp giai đoạn chiến đấu tiếp theo của đơn vị. Sau những chiến thắng liên tục của Bộ đội tên lửa nói chung và của Trung đoàn tên lửa 285 nói riêng trong năm 1966 và 1967, không quân Mỹ tập trung đánh tiêu diệt các trận địa tên lửa của ta bằng nhiều thủ đoạn khác nhau, tăng cường gây nhiễu, cho máy bay trinh sát bay lượn liên tục ngoài biển làm cho ta mệt mỏi, lơ là mất cảnh giác rồi bất ngờ dùng tốp nhỏ, bay thấp lao vào đánh lén các trận địa. Đặc biệt với chiến thuật máy bay địch dùng tên lửa Shrike (sử dụng đầu tự dẫn để theo dõi sóng điện từ của radar của ta), với loại vũ khí mới này địch đã gây cho ta nhiều tổn thất cả người và trang bị khí tài. Trước những thủ đoạn tinh vi của địch, Quân chủng nói chung và đơn vị của ông Đạo nói riêng cũng phải tìm ra nhiều cách đánh mới, khắc chế vũ khí mới, chiến thuật mới của địch để vừa đánh địch đạt hiệu quả, bảo vệ được mục tiêu, trận địa vừa giảm thiểu tổn thất của ta. Bằng ý chí quyết đánh, lối đánh sáng tạo, mưu trí, linh hoạt đó là: Thời gian phát sóng phải ngắn; bật, tắt sóng liên tục; ấn nút phóng đạn giả... làm rối loạn đội hình địch khi phát hiện tín hiệu phóng tên lửa của ta, từ đó lộ rõ mục tiêu cần tiêu diệt; sử dụng biện pháp chống và gạt Shrike, ngắt sóng liên tục là mất phương hướng tên lửa Shrike của địch. Ông cho biết thêm: “vỏ quýt dày, có móng tay nhọn” cháu ạ, nhưng đây là “trò chơi tử thần” giữa ta và địch, không cho phép sửa sai, khắc phục hậu quả của một kíp chiến đấu. Ông kể tiếp - Chỉ riêng năm 1967 tiểu đoàn tên lửa 72 vừa chiến đấu vừa cơ động trên 30 lần, quãng đường di chuyển trận địa tổng cộng cũng phải vài trăm km, đơn vị vẫn bảo đảm được hệ số kỹ thuật, hoàn tốt nhiệm vụ bảo vệ mục tiêu. Tiểu đoàn được tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất, Đại đội 1 của ông được tặng Huân chương Chiến công hạng Ba.

Trước dư luận phản đối của nhân dân thế giới và cả nhân dân Mỹ. Ngày 31/3/1968, Tổng thống Mỹ Johnson buộc phải ra lệnh ngừng ném bon miền Bắc từ Vĩ tuyến 20 trở ra. Trước tình hình đó Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh Quân chủng quyết định tăng cường lực lượng tên lửa và Quân khu 4. Ngày 29/6/1968, Tiểu đoàn 72 tổ chức hành quân cùng toàn bộ khí tài, bệ phóng từ Đông Triều (Quảng Ninh) đến Ga Giáp Bát di chuyển bằng tàu hoả vào ga Thanh Hoá, tiếp đó hành quân bằng đường bộ vào Nghĩa Mỹ (Nghĩa Đàn, Nghệ An). Trong thời gian này, ban ngày không quân địch hầu như là chủ bầu trời Khu 4 hòng cắt đứt các tuyến đường chi viện của ta từ Bắc vào Nam, với quyết tâm bảo vệ tuyến đường, bắn rơi máy bay Mỹ ngay từ trận đầu trên bầu trời Khu 4, đúng ngày 02/9/1968 vào buổi chiều, một biên đội máy bay của ta cất cánh từ sân bay Thọ Xuân (Thanh Hoá) và Nghệ An nghi binh, thu hút địch. Lúc 16h05 một tốp F.4 từ biển lao về Yên Thành định đánh chặn máy bay ta. Tốp thứ hai gồm 2 chiếc F.8 lượn vòng trên bầu trời Đô Lương để nhử máy bay ta. Theo hợp hồng tác chiến giữa lực lượng Không quân và lực lượng Phòng không, thời cơ đã đến, 16h10 dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đình Thi, Đại đội trưởng Đại đội 1 Nguyễn Văn Chắt, sỹ quan điều kiển Trần Ngọc Diệp cùng kíp trắc thủ cự ly Nguyễn Văn Quỳnh, góc tà Hoàng Đạo, phương vị Đặng Văn Kiền, khi máy bay địch vòng trở lại, lúc16h13 mục tiêu xuất hiện, các trắc thủ nhanh chóng ổn định phần tử, nhận lệnh phóng 02 quả đạn của tiểu đoàn, nhưng chỉ bằng một quả đạn chính xác, nổ trùm kín mục tiêu chiếc F.8U cháy như một bó đuốc trên bầu trời Diên Châu (Nghệ An) rồi đâm xuống biển cách bờ khoảng 3km. Đây là chiếc máy bay địch đầu tiên bị Bộ đội tên lửa bắn rơi trên bầu trời Nghệ An, đúng kỷ niệm ngày Quốc khánh trên quê hương Bác Hồ. Cũng sau trận đánh này ông Hoàng Đạo chính thức được kết nạp vào Đảng.

Sau gần 2 năm phối hợp chiến đấu tại Khu 4 bảo vệ mạng lưới giao thông chi viên cho miền Nam, lực lượng Bộ đội tên lửa vừa đánh các loại máy bay địch vừa tổ chức nghiên cứu cách đánh B.52 theo chỉ thị của Quân chủng. Đầu năm 1969 đơn vị lại chuyển ra Bắc bảo vệ Hải Phòng, tại đây trận đánh lúc 15h 30 ngày 15/4/1971, từ trận địa Trung Hà (Thuỷ Nguyên - Hải Phòng) kíp chiến đấu do sỹ quan điều khiển Nguyễn Văn Dựng, trắc thủ phương vị Đặng văn Kiền, góc tà Hoàng Đạo, cự ly Nguyễn Văn Huyên. Bằng một quả đạn bắn rơi tại chỗ một máy bay trinh sát không người lái bay thấp 147.S của địch.

Trận đánh vẻ vang nhất của Tiểu đoàn 72 là trận đánh tại Đại Chu (Yên Phong- Hà Bắc) vào hồi 23h03 đêm ngày 27/12/1972, đơn vị đã bắn rơi tại chỗ một máy bay B52.G của Mỹ trước khi nó chưa kịp cắt bom gây tội ác, một phần xác máy bay phơi mình trên đường Hoàng Hoa Thám, một phần rơi xuống hồ Hữu Tiệp (Ngọc Hà - Hà Nội), đây là chiến công xuất sắc của đơn vị ông góp phần quan trọng cùng quân và dân Thủ đô đập tan cuộc tập kích đường không chiến lược mang tên “Linebacker II” của Mỹ, làm nên một “Điện Biên Phủ trên không”trên bầu trời Hà Nội.

Từ một người chiến sỹ trắc thủ góc tà trong kíp chiến đấu và trưởng thành là sỹ quan chỉ huy thuộc Tiểu đoàn 72 Bộ đội tên lửa được Nhà nước tặng thưởng Danh hiệu Anh hùng LLVT Nhân dân, trải qua hơn 7 năm chiến đấu liên tục, cùng đơn vị đánh hàng chục trận, bắn rơi nhiều máy bay địch, đến năm 1973, cuộc chiến chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ trên bầu trời miền Bắc chấm dứt theo Hiệp định Pari, ông Hoàng Đạo điều động lên là trợ lý, Ban Tuyên huấn - Phòng Chính trị Sư đoàn 361 (Quân chủng PKKQ), Năm 1974 với nhân duyên của nhiều đợt công tác phía Tây Bắc, người sỹ quan tên lửa Hoàng Đạo đã có dịp gặp gỡ nên duyên và xây dựng tổ ấm cùng nữ dược tá Nguyễn Thị Nhung, công tác tại Xí nghiệp Dược phẩm Yên Bái. Từ đây Yên Bái đã trở thành quê hương thứ hai của ông. Đến năm 1982 do yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ vùng trời Tây - Bắc, ông được chuyển về làm Chính trị viên Tiểu đoàn 88, Trung đoàn 274, Sư đoàn 377 (Tuyên Quang) bảo vệ Nhà máy thuỷ điện Thác Bà.

Năm 1988 ông Hoàng Đạo được nghỉ hưu trí. Trở về với đời thường trong hoàn cảnh gia đình còn nhiều khó khăn, vợ yếu đau do bệnh tật, phải lo cho con cái còn nhỏ ăn học, bằng nghị lực vượt lên trong cuộc sống, ông bà Đạo - Nhung đã nuôi dạy các con thành đạt, đó là “tài sản quý nhất của cuộc đời” như ông thường nói. Với tinh thần trách nhiệm của người cán bộ, đảng viên đã được rèn luyện thử thách trong chiến đấu, ông Đạo lại được Chi bộ, Tổ Dân phố và nhân dân tín nhiệm trao cho nhiều trọng trách, Tổ Trưởng Tổ Dân phố, rồi Bí thư chi bộ, kiêm Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh phường Minh Tân...tham gia công tác ở địa phương hơn 15 năm liên tục, dù ở vị trí công tác nào ông cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, luôn được bà con nhân dân trong tổ quý trọng và đã được các cấp từ tỉnh đến cơ sở tặng nhiều Bằng khen, Giấy khen. Đến nay tuổi đời đã trên 80, với gần 60 năm tuổi Đảng, nhưng ông vẫn nhanh nhẹn, hoạt bát, bình dị, là tấm gương sáng mẫu mực cả về lời nói, việc làm trong cuộc sống hằng ngày, đúng như lời ông Kiều Minh Ngọc - Bí thư Tổ đảng 3 Minh Tân, phường Yên Bái khi nói về ông Hoàng Đạo “Một người đảng viên, một cựu chiến binh gương mẫu”./.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn