Ký Ức Người Trở Về Từ Cổng Trời
Tôi nhập ngũ ngày 17 tháng 8 năm 1973. Khi ấy, tôi chỉ là một cậu trai đồng bằng chưa một lần đặt chân tới chốn ngàn sâu, mang trong mình trái tim nóng hổi bước vào đời lính từ vị trí một chiến sĩ giao liên bé nhỏ.

Tôi nhập ngũ ngày 17 tháng 8 năm 1973. Khi ấy, tôi chỉ là một cậu trai đồng bằng chưa một lần đặt chân tới chốn ngàn sâu, mang trong mình trái tim nóng hổi bước vào đời lính từ vị trí một chiến sĩ giao liên bé nhỏ.
Tháng 6 năm 1974, chiến dịch giải phóng thị xã Phước Long mở màn. Khi ấy mang hàm binh nhất, tôi được đi theo đoàn chỉ huy để điêu nghiên địa hình. Trở về sau nhiệm vụ, tôi quay lại đón lực lượng lớn tiến vào. Rừng Tây Ninh thời điểm đó vô cùng âm u, mìn bẫy dày đặc và đầy rẫy thú dữ. Tôi đi một mình, trên vai vỏn vẹn chỉ có khẩu AK và vài trái lựu đạn.
Giữa khúc suối hoang vắng, tim tôi như ngừng đập khi chạm trán ngay một toán thám báo ngụy gồm tám tên. Chúng di chuyển sát sạt, ánh mắt soi mói từng hốc cây. Lúc đó, chỉ cần một tiếng động nhỏ hay một cú bóp cò, tôi có thể diệt được vài tên nhưng toàn bộ chiến dịch giải phóng Phước Long sẽ nát vụn. Nỗi sợ hãi tột cùng bóp nghẹt lồng ngực. Tôi đành nằm nín thở, nhanh tay hốt từng nắm lá khô lấp kín thân mình, mặc cho mồ hôi lạnh chảy ròng rã và cái chết rình rập trong từng nhịp đập.
Khi toán thám báo vừa khuất bóng, sự hoảng loạn bùng phát khiến tôi đâm đầu chạy bán sống bán chết. Chạy đến mức mất luôn phương hướng, lạc mất cả những nhát bẻ cây ký hiệu gọi là "bẻ cò" mà đồng đội đã để lại. Đêm đó, đại ngàn nuốt chửng tôi vào bóng tối đặc quánh. Tiếng voi gầm, tiếng hổ gầm rú xé màn đêm chực chờ xé xác. Không bộ đàm, không đồng đội, giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, tôi phải cởi chiếc thắt lưng cùng sợi dây thúng, trèo lên chạc ba một ngọn cây cao vút. Tôi dùng dây buộc chặt thân mình và chân vào thân cây, treo đu đưa giữa khoảng không rình rập thú dữ, trải qua một đêm dài đằng đẵng như cả thế kỷ trong sự cô độc đến tận cùng.
Sáng hôm sau, khoảng 9 - 10 giờ, đồng chí Thám, Trung đoàn trưởng Lữ đoàn 42 cùng hai vệ binh xới tung rừng sâu tìm thấy tôi. Ngay khoảnh khắc gặp lại, đồng chí Thám lao đến tát thẳng vào mặt tôi mấy cái giáng trời. Tát xong, người chỉ huy ấy gục xuống, ôm lấy tôi mà khóc nức nở. Những giọt nước mắt nóng hổi lăn trên gò má nghẹn ngào. Anh đánh tôi vì tức, nhưng khóc vì quá thương, vì nếu tôi rơi vào tay địch hoặc gục ngã, toàn bộ trận đánh sẽ bại lộ và máu của hàng trăm đồng đội sẽ phải đổ.
Rồi trận đánh núi Bà Cẩm diễn ra sau đó như một cơn ác mộng máu và nước mắt. Trong tổ vệ binh 17 người, chỉ còn tôi và một đồng chí tên Văn bị thương sống sót. Người đồng chí tên Văn còn lại đã trúng đạn hy sinh ngay trên điểm cao lộng gió. Thi thể anh nằm lại giữa làn đạn xối xả. Khi nghe đồng đội dưới chân núi nghẹn ngào nhắn lên: "Giờ chỉ có thằng Minh mới cõng nó xuống được thôi, tôi là con một Hòm Dầu, chết mất xác thì tội lắm...", tôi đã bò qua làn đạn, ván cược cả mạng sống để đưa xác người bạn đồng ngũ trở về. Trận Phước Long năm đó là phép thử xé thịt nát xương để đo lường sự trở lại của quân Mỹ, mở đường máu cho Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Chiến tranh chưa dừng lại ở đó. Sau những năm tháng dài chinh chiến ở Campuchia, khi chiến sự biên giới phía Bắc bùng nổ, tháng 3 năm 1979, tôi cùng 186 cán bộ sĩ quan lập tức rời miền Nam, lao thẳng ra tuyến đầu Vị Xuyên, Hà Giang để thành lập Lữ đoàn 342. Tại đây, trên cương vị Chính ủy tiểu đoàn mang hàm thượng úy, tôi đã chứng kiến sự tàn khốc đến nghẹt thở của Chiến dịch B74.
Hôm ấy, tổ chỉ huy chúng tôi gồm 6 người gánh trách nhiệm điều khiển pháo binh chi viện cho Trung đoàn 3. Pháo ta vừa phát lệnh nổ thì ngay lập tức, pháo binh Trung Quốc tập kích phản công dữ dội. Hàng trăm quả đạn pháo rót xuống cuồng nộ, trút mưa lửa trùm lên căn hầm nhỏ. Tiếng gầm rú xé rách không gian, đất đá đổ sập, khói khét lẹt nát vụn không khí. Cửa hầm sụp nát. Ngay trước mắt tôi, đồng chí Tiểu đoàn trưởng trúng mảnh pháo gục xuống tại chỗ. Hai đồng chí bảo vệ và chiến sĩ thông tin máy 15W hy sinh ngay tức khắc, thân thể họ hòa vào đất đá nơi góc hầm. Tôi cùng đồng chí liên lạc bị thương nặng, máu chảy lênh láng hòa lẫn trong tro bụi. Trong phút giây ấy, ranh giới giữa sống và chết nát vụn. Thịt xương đồng đội văng khắp căn hầm tối om, mùi máu tươi xộc vào mũi đắng ngắt. Đó là nỗi đau tột cùng của một người chỉ huy khi phải giương mắt nhìn những người em, người đồng chí thân thiết gắn bó với mình trút hơi thở cuối cùng trong lòng đất mẹ.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Chiến sự biên giới khép lại, 14 sư đoàn giải tán, trong đó có Sư đoàn 314 của tôi. Tôi trở về đời thường mang trên mình cả hai chế độ thương binh và bệnh binh, với những vết thương chằng chịt trên thân thể và những vết sẹo không bao giờ lành trong tâm khảm.
Hà Giang - mảnh đất chôn giấu bao nhiêu máu xương ấy, lại cũng là nơi lưu dấu một phép màu kỳ diệu của tình mẫu tử và tình phu thê. Nhiều năm chinh chiến xa nhà, tôi và vợ không thể có con. Nhận được tin tôi bị thương nặng, mẹ đẻ tôi khi đó đã ngoài 80 tuổi, từ quê nhà Nghệ An lặn lội bắt xe ra tận vùng biên ải Hà Giang tột cùng gian khổ. Mẹ ra đi với một tâm nguyện đau đớn đến thắt lòng: "Tôi xác định ra đây, con tôi có chết thì tôi xin lại cái mồ của nó mang về...". Đến khi thấy tôi còn sống trở về sau đợt diễn tập, người mẹ già gục vào lòng tôi khóc như một đứa trẻ.
Sau đó, vợ tôi cũng vượt ngàn dẫm dặm ra đơn vị thăm tôi suốt hai tháng trời. Giữa doanh trại quân đội thiếu thốn đủ đường, chị ngượng ngùng không dám ăn cơm chung với dàn sĩ quan nam. Cả ban chính trị phải bố trí cho vợ chồng tôi nấu ăn riêng. Và rồi, tình yêu vươn lên từ mảnh đất cằn cỗi và bom đạn ấy đã đơm hoa kết trái: đứa con trai đầu lòng của chúng tôi ra đời vào tháng 11 năm 1980, được chúng tôi trân trọng đặt tên là Hà Giang - để ghi nhớ mảnh đất thiêng liêng đã tái sinh đời tôi.
Giờ đây, chiến tranh đã lùi xa vào quá khứ. Trong căn nhà nhỏ yên bình, chỉ còn hai vợ chồng già nương tựa vào nhau. Ba người con trai đều đã trưởng thành và lập nghiệp xa nhà. Khác với người ta thích bon chen làm giàu, tôi dành trọn phần đời còn lại để chăm sóc từng khóm hoa, cây cảnh, nuôi vài chú chim, đàn ong nhỏ quanh vườn. Mỗi tiếng chim hót, mỗi nhành hoa nở trong bình yên hôm nay đều nhắc nhở tôi về giá trị vô giá của hòa bình — một hòa bình được đổi bằng cả tuổi trẻ, nước mắt và máu xương của biết bao đồng đội đã mãi mãi nằm lại nơi núi sâu vực thẩm.



