KÝ ỨC RỪNG SÁT
Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có một vùng đất đã trở thành nỗi khiếp sợ của kẻ thù, nơi mà mỗi gốc đước, rễ bần đều thấm đẫm xương máu và nước mắt của những người anh hùng. Đó là Rừng Sát "căn cứ nổi" giữa lòng sông nước, nơi gắn liền với tên tuổi của người Anh Hùng Đại Tá, Lực Lượng Vũ Trang Nhân Dân LÊ BÁ ƯỚC hay được gọi là BẢY ƯỚC. Với tôi, câu chuyện về cuộc đời ông không chỉ là một trang sử, mà là một bài ca bất tử về ý chí và sự hy sinh vô bờ bến của thế hệ "thời hoa lửa".
Là người đứng đầu dẫn dắt Trung đoàn 10 Đặc công, chú Bảy đã cùng đồng đội biến vùng sình lầy rộng hơn 60.000 ha thành một trận đồ bát quái. Vị chỉ huy ấy đã sáng tạo ra những cách đánh mưu trí, lấy ít thắng nhiều, lấy thô sơ thắng hiện đại ngay tại cửa ngõ Sài Gòn, khiến quân thù phải khiếp vía. Chiến công chói lọi nhất chính là trận đánh kho xăng Nhà Bè đêm 2 rạng sáng ngày 3/12/1973. Dưới sự chỉ đạo của ông, các chiến sĩ đặc công đã vượt qua 12 lớp hàng rào kẽm gai để đánh nổ 8 kho xăng khổng lồ, thiêu rụi 150 triệu lít nhiên liệu, chiếm 60% dự trữ của địch. Ngọn lửa ấy đã cháy rực trời suốt 12 ngày đêm, làm phá sản hoàn toàn kế hoạch hậu cần của đối phương. Không chỉ vậy, trận đánh tàu Victoria trọng tải 10.000 tấn hay kho bom Thành Tuy Hạ với hơn 100.000 tấn bom đạn bị phá hủy cũng là những minh chứng cho tài thao lược của người anh cả Rừng Sát. Tổng cộng, đơn vị đã tổ chức gần 600 trận đánh, nhấn chìm hơn 350 tàu xuồng của địch.
Thế nhưng, đằng sau hào quang chiến thắng là một thực tế khốc liệt đến tận cùng. Người chiến sĩ năm xưa thường kể lại với đôi mắt nhòe lệ về những đồng đội đã nằm lại nơi rừng thiêng nước mặn. Tại đây, kẻ thù không chỉ có bom đạn B-52 hay 4 triệu lít chất độc hóa học rải xuống, mà còn là những hiểm nguy từ loài cá sấu hung hăng. Có những đêm vượt sông, chiến sĩ ta bị sấu tấn công nhưng vẫn nghiến răng chịu đựng, chấp nhận hy sinh trong im lặng tuyệt đối để không làm lộ bí mật quân sự. Trong suốt cuộc chiến, hơn 800 chiến sĩ Đặc công Rừng Sát đã vĩnh viễn nằm lại, xương máu các anh đã hòa vào dòng nước mặn. Đau thương hơn cả là bi kịch cá nhân của ông: người vợ thân yêu – bà Đặng Thị Tuyết, cũng là một đồng đội kiên trung, đã bị giặc bắt và sát hại dã man. Nén nỗi đau riêng, Anh hùng Lê Bá Ước vẫn kiên cường đứng vững để dẫn dắt đơn vị đến ngày toàn thắng. Chú từng viết những vần thơ quặn thắt về vùng đất này:
"Rừng Sát mênh mông nước mặn đồng
Xương trắng người đi máu nhuộm dòng
Đạn bom cày nát từng thân đước
Vẫn vững lòng son quyết một lòng."
Tóm lại, sự gian khổ mà những chiến sĩ Rừng Sát đã trải qua vượt xa mọi giới hạn chịu đựng của con người. Những ngày dài ngâm mình dưới nước mặn đến lở loét da thịt, những cơn đói cháy lòng bên gốc bần đã hun đúc nên một tinh thần thép. Tất cả những khó khăn nghiệt ngã và sự hy sinh mất mát đau thương ấy đã đổi lấy sự bình yên cho dòng sông Lòng Tàu, góp phần vào ngày đại thắng của dân tộc. Xương máu của hàng trăm liệt sĩ đã hòa quyện vào đất mẹ, trở thành nền tảng vững chắc cho độc lập ngày hôm nay. Sau chiến tranh, dù mang trên mình nhiều vết thương, ông vẫn miệt mài đi tìm hài cốt đồng đội. Để tưởng nhớ những người đã ngã xuống, người chỉ huy ấy đã để lại bài thơ đầy hiển linh và bất tử làm lay động lòng người:
"Rừng Sát ơi! Ta đã về đây
Tìm lại anh em sau lớp sóng gầy
Máu nhuộm dòng sông, xương trắng bãi
Hồn thiêng sông núi hiển linh nầy
Gió đưa cánh hạc về muôn dặm
Sóng cuộn hồn anh đến mọi nơi
Dù cho vật đổi hay sao dời
Tên anh vẫn sáng rực phương trời."



