Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

KÝ ỨC SƯ ĐOÀN

Đoạn kể trên thuật lại những ký ức chiến tranh đầy đau thương và anh dũng của các chiến sĩ Sư đoàn Sao Vàng trong kháng chiến chống Mỹ. Tác giả nhắc lại quá trình hành quân, chiến đấu ác liệt ở miền Trung, nơi nhiều đồng đội đã hy sinh trong những trận đánh khốc liệt. Chiến tranh khiến biết bao người lính ngã xuống, nhiều người trở về mang thương tật và hậu quả nặng nề của chất độc hóa học. Qua đó, đoạn văn thể hiện sự tri ân sâu sắc đối với những người lính đã hy sinh và nhắc nhớ về những mất m

Lai Châu09/03/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Khi những trận đánh cuối cùng của sư đoàn Sao Vàng kết thúc ở thành phố biển Vũng Tàu, lịch sử của sư đoàn lật qua một trang mới. Hàng vạn người lính rời quân ngũ, chuyển ngành trở về với cuộc sống đời thường do thương tật, tuổi tác, hoàn cảnh gia đình. Hàng vạn người lính, thê hệ trưởng thành sau 30 tháng 4 năm 1975 đã thay thế họ. Sư đoàn, như một dòng sông mang trong lòng nó dòng máu trung dũng - kiên cường ào ạt chảy không dứt qua thời gian, không gian và sẽ còn chảy xiết tới những thế kỹ sau.

Trong mười năm tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước gian khổ, hàng vạn người chiến sĩ của sư đoàn đã vĩnh viễn nằm lại ở chiến trường miền Trung. Những trang sử vẻ vang của sư đoàn đã được viết bằng chiến công, nhưng trước hết nó đã được viết lên bằng máu của những chiến sĩ ấy.

Chỉ tính riêng trung đoàn 22 của tôi từ huyện Lương Sơn, Hòa Bình hành quân vào chiến trường khu năm tháng 6 năm 1965. Qua mười năm chiến tranh điểm lại cho đến nay chẳng còn được mấy người. Hơn hai nghìn cán bộ chiến sĩ đã hy sinh rải rác trên mảnh đất miền Trung, tính từ Quảng Ngãi đến Phú Yên - một vùng đất đầy ân nghĩa nhưng vô cùng khốc liệt.

Trước ngày nhập ngũ, tôi là một học sinh nên vốn hiểu biết về chiến tranh cũng chỉ qua sách vở. Khoác ba lô leo dọc Trường Sơn tôi mới lờ mờ thấy bộ mặt thật của chiến tranh. Và giọt nước mắt đồng đội đầu tiên trong đời tôi đã rơi ở đó. Anh Nguyễn Văn Tý, quê Hà Nam, cùng trạm sửa chữa quân giới với tôi bị sốt rét ác tính, chết dọc đường. Tôi, Lê Anh Sáng, An Gia Gôi... đã chôn cất anh trong một cánh rừng già của trạm giao liên huyện Trà My, Quảng Nam.

Sau gần ba tháng đi bộ, đơn vị mới vào tới khu tập kết cuối cùng. Đó là một con suối lớn nằm trong khu rừng phía tây huyện An Lão, tỉnh Bình Định. Thành lập sư đoàn (2-9-1965) được bốn năm ngày, tôi lại phải vĩnh biệt đồng đội lần nữa. Anh An Gia Gôi, trạm trưởng quân giới. Hôm ấy anh đi chuẩn bị chiến trường bị máy bay Mỹ bắn chất ở đập Sử Hầu, xã Phổ Nhơn, Quảng Ngãi. Không bất ngờ, nhưng tôi thấy lòng nôn nao trống vằng...

Sau này, tôi đã vuốt mắt, chôn cất cho nhiều người đồng đội, nhưng sự ra đi đường đột, đơn lẻ của anh Tý, anh Gôi đối với tôi trở thành một kỷ niệm đầu đời không thể nguôi quên.

Ngày ấy, khi công việc biên chế, tổ chức của trung đoàn vừa tạm ổn định, đơn vị bước ngay vào chiến đấu; nghĩa là không có thời gian tập luyện. Rất nhiều chiến sĩ mới vừa qua một đợt huấn luyện ngắn ngày, đã khoác ba lô vượt Trường Sơn. Bộ quân phục chưa kịp sờn vai đã phải bỏ lại ở trạm Làng Ho, mặc bộ bà ba đen, đội mũ tai bèo Quân Giải phóng và họ chẳng kịp tầng bị đủ tri thức quân sự của người lính chiến. Nhưng chiến tranh đã bắt buộc họ khôn ngoan một cách khẩn trương nhất. Vì vậy, chẳng mấy chốc chúng tôi đã biết mình cần phải làm gì và làm thế nào để diệt được địch, bảo vệ được mình.

Căn cứ điểm Thạch Trụ (Mộ Đức, Quảng Ngãi) là trận đánh đầu tiên của sư đoàn. Nghiệt thay, đúng vào cái đêm ta nổ súng tấn công địch thì trời mưa tầm tã, nước tràn ngập đường xá, bộ đội các hướng đi lạc đường. Trận đánh không diệt gọn, anh em thương vong nhiều. Cái đau cuả đơn vị còn ở chỗ không lấy được hết thương binh, tử sỉ trong đồn địch. Từ đó, chiến trường miền Nam trở lên quyết liệt gấp bội. Đầu năm 1966, Mỹ tỏa ra một lực lượng lớn chưa từng có mở cuộc phản công chiến lược mùa khô thứ nhất. Sang năm 1967, mở cuộc phản công chiến lược lần thứ hai, nhằm tiêu diệt chủ lực Quân Giải phóng, bẻ gãy xương sống cách mạng miền Nam. Không còn con đường nào khác để lựa chọn, quân dân miền Bắc, miền Nam lại cắn răng, gồng mình chịu mọi hy sinh, gian khổ, tập trung sức lực, trí tuệ, quyết đánh bại ý chí và hành động xâm lược của Mỹ. Riêng địa bàn bắc Bình Định, nam Quảng Ngãi, sư đoàn Sao Vàng và quân dân địa phương đã bẻ gãy ba trong năm "mũi tên" chủ yếu của quân Mỹ ở chiến trường. Có thể nói, hai mùa khô 1966 và 1967 là một trong những thời kỳ quyết liệt nhất, tàn khốc nhất, một bước ngoặt trên chiến trường miền Trung. Sư đoàn Sao vàng đã vượt qua những bỡ ngỡ ban đầu, đi đến một khẳng định dứt khoát: có thể đánh Mỹ và thắng Mỹ. Chiến thắng Bồng Sơn, Chợ Cát, Xuân Sơn, Núi Một, Long Giang, Lộc Giang... đã nói lên điều đó. Thế nhưng thắng lợi nào không phải trả giá. Ngay những trận đánh đầu tiên ấy, hàng ngàn cán bộ chiến sĩ, những người con thông minh dũng cảm đã hy sinh. Hàng ngàn người khác mang thương tích suốt đời.

Cứ như vậy, đồng đội của tôi hy sinh càng nhiều hơn theo độ gia tăng chiến tranh xâm lược của Mỹ. Ở đơn vị bộ binh thường xuyên xảy ra tình trạng "gạo thiếu, cơm thừa"... Lúc xuất trận thì ồn ào, náo nhiệt, khi trở về, cả đại đội chỉ còn vẻn vẹn dăm bày người ngồi đủ một mâm cơm. Bốn, năm mâm cơm còn lại không có người ăn. Chúng tôi lúc đầu đau xót, than thở, ôm xác đồng đội mà khóc. Nhưng về sau chúng tôi không còn đủ nước mắt và thời gian để vĩnh biệt bạn. Công việc chiến đấu cứ ùn đóng trước mắt, cứ dồn dập diễn đi diễn lại triền miên, gấp gáp. Mỗi năm không chỉ có một chiến dịch, mỗi tháng không chỉ có vài ba lần nổ súng. Có tháng 30 ngày, phải đánh đến hai chục trận lớn nhỏ. Anh em thường nói: "Quanh năm khẩn trương, bốn mùa chiến dịch" là như vậy. Hầu như ngày nào, lúc nào người chiến sĩ trong sư đoàn cũng phải lo đối phó: đối phó với địch, đối phó với đói khát, bệnh tật; đối phó với mưa rừng, núi lở... Khi đồng đội hy sinh ở hậu cứ, còn lo liệu được chu tất, nhưng trong lúc hành quân ở vùng địch hậu, hoặc lúc gặp định giữa đường (tao ngộ) thì không thể... Người sống đành từ tạ người chết, lấy xẻng gạt đất lên người bạn một cách vội vã rồi lau nước mắt hành quân tiếp. Không kịp và không thể có một nén nhang, một bát cơm, quả trứng cho hương hồn bạn...

Những sự hy sinh như vậy xảy ra thường xuyên như cơm bữa. Nhưng sự đau đớn hơn cả là sự hy sinh đến với những người lính vừa đặt chân đến chiến trường, còn lạ từ lá cây, ngọn cỏ.

Tôi nhớ vào mùa đông năm 1967, sư đoàn được bổ sung một tiểu đoàn tân binh người Bắc Thái. 11 giờ đêm anh em về đến suối Đá Tượng (Hoài Ân, Bình Định) thì gặp định phục kích. Trận đánh ác liệt xảy ra suốt đêm ấy. Sớm hôm sau, quân bộ binh Mỹ được máy bay lên thẳng bổ xuống ồ ạt bịt chặt các ngả đường, nhằm vây cắt, tiêu diệt quân ta. Tiểu đoàn tân binh, từ cán bộ đến chiến sĩ đánh trả địch quyết liệt. Nhưng do chưa từng đụng độ với địch, đối tượng lại là "Sư đoàn không vận số 1 Mỹ", có lối đánh hiện đại, rầm rộ, áp đảo, anh em không khỏi hoang mang, bối rối. Đội hình bị xé lẻ, thương vong mỗi lúc một tăng. Cả khu rừng già rộng lớn bị những trận mưa bom, mưa pháo, rốc két... tả tơi như chiếc áo rách không còn đường vá víu. Trận đánh kéo dài đến nửa đêm. Phần nhiều chiến sĩ hy sinh tại chỗ. Số còn lại chạy tản mát vào rừng. Gạo không có, muối không có, đường xã, địa hình không quen biết... Cán bộ chiến sĩ đành cầm hơi bằng lá rừng và nước suối. Mười một ngày sau trung đoàn mới tìm được hết số anh em thất lạc. Trước lúc gặp địch tiểu đoàn có 240 quân, sau trận đánh chỉ còn 38 người. Hơn hai trăm người đã hy sinh rải rác trong cánh rừng hai bên bờ suối mà sau này anh em sư đoàn thường gọi là "suối máu" để ghi nhớ mối hận thù với sư đoàn kỵ binh bay Mỹ.

Cuối tháng 1 năm 1968, tiểu đoàn sáu trung đoàn 12 mở một đợt hoạt đông ở khu vực Đập Đá, cửa ngõ thị xã Quy Nhơn. Không chịu được cái gai cắm ngay sát nách sào huyệt, lập tức địch điều đến một trung đoàn lính Nam Triều Tiên thuôọ sư đoàn "Mãnh Hổ", 32 xe tăng và xe bọc thép, bốn đại đội bảo an cùng nhiều máy bay, đại bác giải tỏa. Trận đánh vô cùng ác liệt kéo dài năm ngày đêm xung quanh khu vực làng Phương Danh Nam. Tiểu đoàn 6 bị địch vây vòng trong, vòng ngoài và bị xe tăng liên tục đột kích. Chiến sĩ ta chỉ còn con đường duy nhất, con đường cuối cùng là "sống anh dũng, chết vẻ vang". Súng hỏng, đạn hết. Địch vẫn ùn ùn xông tới. Những người còn lành lặn và tất cả những anh em bị thương nhẹ, đã bật dậy đánh giáp lá cà với địch bằng lưỡi lê, dao găm, xẻng, cuốc và cả các loại dao thái thịt, dao chẻ củi của anh nuôi. Xác máy bay lên thẳng, xe bọc thép, xác lính Triều Tiên, xác lính ngụy rải rác từ ngoài cánh đồng vào trong ngõ xóm. Nhưng rồi trận đánh cũng phải kết thúc. Quang cảnh chêt chóc, đổ nát của chiến trường thật là thảm khốc. Chưa bao giờ quân địch vùng này lại gặp một đối thủ chống trả quyết liệt đến như vậy. Trung đoàn lính Nam Triều Tiên bị thiệt hại nặng. Còn tiểu đoàn sáu trung đoàn 12 hơn năm trăm cán bộ chiến sĩ, chỉ còn trở về mươi người.

Sau trận đánh, phần lớn anh em hy sinh được bà con địa phương chôn cất. Một số khác địch bắt đồng bào dồn lai chôn chung vào một hố. Bà con vô cùng thương tiếc các liệt sĩ nên gọi ngôi mộ tập thể đó là "Mộ Tổ". Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, sư đoàn đã kết hợp với địa phương liên tục tìm kiếm suốt 20 năm mới xác định được 148 trường hợp có họ, có tên nằm trong ngôi mộ tập thể đó. Cũng tại nơi đây Đảng, chính quyền và nhân dân địa phương đã xây cất một đài tưởng niệm. Hàng năm, cứ đến những ngày cuối tháng một, đồng bào địa phương lại mang hương hoa ra "Mộ Tổ" cầu mong cho hương hồn những liệt sĩ đã anh dũng hy sinh trên mảnh đất quê mình được siêu thoát.

Và còn biết bao nhiêu trường hợp hy sinh tập thể khác như đại đội đặc công sư đoàn đi lấy gạo bị địch phục kích dọc đường. Một đại đội của trung đoàn 22 nằm hầm bí mật ở bãi cát Hoài Nhơn bị xe tăng dàn hàng ngang rà sập...

Từ sau năm 1975, nhà nước, quân đội kết hợp với chính quyền và nhân dân các địa phương đã tích cực tìm kiếm, quy tập anh em về nghĩa trang liệt sĩ. Riêng sư đoàn Sao Vàng, cũng tổ chức hàng chục đoàn trở lại tất cả những địa bàn đã hoạt động để làm công việc đó. Tìm thêm được một liệt sĩ thật là khó, nhưng biết được liệt sĩ đó là ai, quê quán nơi nào còn khó hơn nhiều. Tôi đã đi dọc các tỉnh miền Trung từ Quảng Nam, Quảng Ngãi đến Bình Đinh, Phú Yên... ở nghĩa trang nào tôi cũng gập rất nhiều hàng mộ không có họ, tên, địa chỉ. Trên mỗi tấm bia trang trọng, thể hiện tấm lòng "uống nước nhớ nguồn" của nhân dân, chính quyền địa phương, cũng chỉ vắn tắt một hàng chữ: "Liệt sĩ vô danh".

Hàng chữ giản dị ấy đã nhói trong lòng chúng tôi một nỗi niềm day dứt không nguôi...

Bây giờ cuộc chiến tranh vĩ đại nhưng khốc liệt ấy đã lùi lại 20 năm, nhưng hậu quả khôn lường của nó vẫn còn đọng lại, chi phối đến từng số phận, từng cảnh đời những người lính trong sư đoàn còn có cơ hội trở về với cuộc sống đời thường.

Khi mới vào chiến trường, những người lính trẻ chúng tôi đã phải đối đầu ngay với chất độc hóa học của Mỹ. Những cánh rừng già nguyên thủy, ngút ngàn phía Hoài Ân, An Lão, Vĩnh Thạnh... nối liền với dải Trường Sơn hùng vĩ, chỉ sau một trận mưa hóa học đã rụng lá, trơ lại những thân cành khẳng khiu. Máy bay Mỹ thường dàn hàng ngang phun thuốc trắng xóa như mưa phùn. Nhiều lần đi công tác, đi cõng gạo, chúng tôi đã bị "mưa hóa học" dội ướt từ đầu đến chân, mùi tanh, mùi khét xông lên nồng nặc. Tàn bạo hơn, bọn xâm lược Mỹ còn dùng máy bay thả thuốc bọt hóa học xuống các suối nước, hang đá hoặc những tuyến đường mòn dẫn tới khu rừng căn cứ địa của sư đoàn. Trong các trận đánh chúng đã sử dụng các loại đạn pháo, cối hóa học bắn sang trận địa ta. Tác dụng của thuốc bột kéo dài khá lâu. Năm, bảy tháng sau vẫn làm chảy nước mắt, ngứa ngáy, tức thở, thậm chí ho ra máu. Nhiều khi tình hình quá gay cấn, sư đoàn vẫn phải lấy nước ở cuối nguồn sinh hoạt ăn uống. Khi đó, chúng tôi chỉ có một ý nghĩ duy nhất: "Cần ăn để sống, cần sống để đánh giặc".

Chúng tôi không ai kịp nghĩ tới cái hậu quả ghê gớm của nó.

Sau khi chiến tranh kết thúc, chúng tôi, những người lính sư đoàn lần lượt tìm về với đời sống bình thường nhất của một con người. Nỗi khát khao của chúng tôi là một tổ ấm gia đình. Vậy mà điều đơn giản tưởng như "trời cho" ấy nhiều người cũng không thực hiện được. Đồng chí Nguyễn Văn Thông cán bộ tác chiến trung đoàn 2, sau nhiều lần về phép và còn đưa vợ lên chiêu đãi sở trung đoàn hàng tháng trời, mới có "tin mừng". Nhưng nghiệt ngã thay, vợ anh không sinh ra con mà sinh ra trứng. Không chỉ một lần mà tới hai, ba lần, cho đến khi phải triệt sản. Anh Phương, anh Thiện, anh Thảo và nhiều người nữa, hơn 40 xuân, mới có vợ, có con. Nhưng những đứa con đáng thương kia đã phải mang khuyết tật từ trong bụng mẹ...

Bây giờ mỗi khi trái nắng trở trời, những người lính cũ của sư đoàn phải vào bệnh viện, đều gặp chung câu hỏi: "Đồng chí ở chiến trường nào? Có sống ở khu vực nhiễm chất độc hóa học không?". Căn bệnh nguy hiểm nhất, nặng nề nhất đối với họ là bệnh: ung thư; ung thư gan, phổi, dạ dày, ung thư da, vòm họng và nhiều thứ bệnh na y khác... Nó có thể trỗi dậy và quật ngã chúng tôi bất kỳ lúc nào. Không ít người vừa thoát khỏi bom đạn chiến tranh, đã lặng lẽ "ra đi" bởi chứng bệnh hiểm nghèo đó. Chất độc hóa học Mỹ tiếp tục truy kích họ trên giường bệnh.

Không thể kể hết từng trường hợp những người đồng đội của tôi đã "ra đi" như thế nào sau chiến tranh, chỉ xin dẫn một ví dụ nhỏ: Đó là các anh chỉ huy sư đoàn Sao Vàng trong thời đánh Mỹ. Cho đến nay trong số chín sư đoàn trưởng đã có sáu người "ra đi" vì những căn bệnh hiểm nghèo. Đó là các anh: Giáp Văn Cương, Lư Giang, Huỳnh Hữu Anh, Lâm Bá Khuê, Đới Ngọc Cầu, Đoàn Mai Ngữ...

Các anh là những người đã nhiều năm cùng chịu chung một trận mưa thuốc độc hóa học, uống chun nguồn nước có độc tố da cam...

Vinh quang đã đến với các anh, nhưng số phận đã quá khắc nghiệt với các anh. Nhân ngày kỷ niệm 30 năm thành lập sư đoàn tôi viết bài ký này đẻ thắp lên ngọn lửa, hy vọng ngọn lửa có thể sưởi ấm những người đồng đội của tôi đã hy sinh ở trên chiến trường và trên giường bệnh. Tôi tin rằng sự hy sinh cao cả của họ sẽ mãi mãi là điểm tựa cho mỗi cuộc đời chúng ta.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn