Khác

Ký ức Tây Nguyên qua kỷ vật của cựu chiến binh Sư đoàn 304

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ những ngày chiến đấu trên chiến trường Tây Nguyên, nhưng đối với cựu chiến binh Hoàng Cao Thắng, nguyên cán bộ Trung đoàn 24, Sư đoàn 304, ký ức về đồng đội và những cuộc hành quân giữa đại ngàn vẫn vẹn nguyên.

Quảng Trị27/09/2026Phường An Cựu (Đoàn phường An Cựu)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Ký ức Tây Nguyên qua kỷ vật của cựu chiến binh Sư đoàn 304

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ những ngày chiến đấu trên chiến trường Tây Nguyên, nhưng đối với cựu chiến binh Hoàng Cao Thắng, nguyên cán bộ Trung đoàn 24, Sư đoàn 304, ký ức về đồng đội và những cuộc hành quân giữa đại ngàn vẫn vẹn nguyên.

Hành quân vào Tây Nguyên  

Sinh năm 1947 tại xã Ngọc Liên, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương (nay là xã Cẩm Giàng, thành phố Hải Phòng), sau khi tốt nghiệp phổ thông, đồng chí Hoàng Cao Thắng tình nguyện nhập ngũ vào tháng 10/1964, được biên chế về Trung đoàn 42, Sư đoàn 350. Tháng 4/1965, đơn vị được bàn giao về Sư đoàn 304 và mang phiên hiệu Trung đoàn 24. Từ tháng 5 đến tháng 10/1965, đồng chí cùng đồng đội huấn luyện tại huyện Thạch Thành (Thanh Hóa), chuẩn bị cho cuộc hành quân vượt Trường Sơn vào chiến trường miền Nam.

Nhắc lại quãng thời gian ấy, đồng chí Thắng vẫn nhớ như in những ngày mang vác nặng để rèn luyện sức bền cho cuộc hành quân dài ngày: "Huấn luyện vất vả là chuyện bình thường của người lính, nhưng gian nan nhất là tập mang vác nặng chuẩn bị cho cuộc hành quân 'xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước'. Mỗi người phải tự đan một chiếc sọt bằng tre, bên trong chất khoảng 30kg đá hoặc gạch. Ra khỏi nhà là đeo, đi thao trường đeo, đi họp cũng đeo. Đeo lâu thành quen, bỏ sọt xuống lại thấy mất thăng bằng".

Đầu tháng 11/1965, Trung đoàn 24 nhận lệnh "đi B". Đại uý Hoàng Cao Thắng nhớ lại: "Những kỷ vật, thư từ, quần áo đều phải để lại. Cũng may chiếc bi đông lúc nào tôi cũng mang theo bên mình vì phải đựng nước uống nên không thể thiếu được". Sau gần một tháng hành quân bộ, đơn vị đến Làng Ho (Quảng Bình), thay quân trang theo quy định của Quân giải phóng miền Nam rồi tiếp tục cơ động vào Tây Nguyên. Cuối năm 1965, Trung đoàn 24 có mặt tại Kon Tum, nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu. Đơn vị được giao nhiệm vụ vây đồn Tu Mơ Rông, đồng thời đánh quân tiếp viện trên đường 14B. Đồng chí Hoàng Cao Thắng được giao nhiệm vụ làm trinh sát, thông tin liên lạc, trực tiếp tham gia chiến đấu và phối hợp chỉ huy lực lượng chặn quân tiếp viện của địch.

Sau gần một tuần vây ép, Trung đoàn tiêu diệt đồn Tu Mơ Rông. Tuy nhiên, ngay sau đó quân Mỹ sử dụng trực thăng đổ bộ xuống các khu vực Đắk Trâm, Mô Bành nhằm chặn đường rút của đơn vị. Khi thương vong tăng lên, lương thực, thực phẩm dần cạn kiệt, Bộ Tư lệnh Mặt trận quyết định cho Trung đoàn mở đường rút về hậu cứ theo hướng dãy Ngọc Linh - tuyến đường hiểm trở nhưng ít bị đối phương chú ý.

Đêm 15/3/1966, toàn Trung đoàn bí mật hành quân lên dãy Ngọc Linh. Đến tận bây giờ, mỗi khi nhắc lại cuộc hành quân ấy, giọng đồng chí vẫn chùng xuống: "Suốt một tuần, chúng tôi chỉ có đi và đi trên đỉnh núi Ngọc Linh. Không có nước nấu cơm, củi khô cũng ướt sũng vì sương mù. Chúng tôi chỉ còn lương khô, gạo rang, có khi phải nhai gạo sống, ăn rau rừng, chặt dây leo lấy nước để mút, nhiều hôm phải nhịn đói. Ai còn sức thì đi, ai mệt ngồi nghỉ một lúc rồi lại tiếp tục hành quân".

Uploaded Image

 Bộ đội hành quân trên tuyến đường Trường Sơn. Ảnh tư liệu

Đói khát, bệnh tật và sự truy kích của địch khiến cuộc rút quân càng thêm khốc liệt. Tuy nhiên, điều khiến đồng chí Thắng xúc động mỗi khi nhớ lại là hình ảnh những cán bộ, chiến sĩ không quản hiểm nguy, hết lòng cứu chữa và đưa đồng đội bị thương vượt qua dãy núi. "Tôi vừa làm nhiệm vụ trinh sát, thông tin liên lạc, vừa trực tiếp chiến đấu, đồng thời tham gia phục vụ đơn vị. Mặc dù ai cũng mệt rã rời, chúng tôi vẫn thay nhau khiêng 49 thương binh nặng vượt núi. Những vết thương nhiều ngày không được rửa, mùi bốc lên nồng nặc, dòi bọ bám kín. Đường trên đỉnh Ngọc Linh trơn như đổ mỡ vì hàng nghìn người đi chung một lối nhỏ. Mỗi cáng có bốn chiến sĩ thay nhau khiêng, ai cũng chống thêm một cây gậy để khỏi trượt ngã. Có những đồng chí bị thương quá nặng, không qua khỏi và mãi mãi nằm lại trên đỉnh núi Ngọc Linh", đồng chí Thắng bồi hồi nhớ lại.

Sau một tuần vượt núi, Trung đoàn trở về hậu cứ an toàn. Cuộc rút quân trong điều kiện bị địch bao vây, thiếu lương thực, thiếu nước uống và nhiều thương binh đã trở thành một ký ức không thể quên đối với những người lính từng chiến đấu trên Mặt trận Tây Nguyên. Đến nay, mỗi khi nhắc lại cuộc rút quân ấy, giọng người cựu chiến binh vẫn chùng xuống. Những đồng đội đã ngã xuống trên dãy Ngọc Linh trở thành ký ức không thể nào quên đối với người lính từng trực tiếp trải qua những ngày tháng gian khổ ấy.

Gìn giữ ký ức chiến trường

Những năm sau đó, đồng chí Hoàng Cao Thắng tiếp tục tham gia nhiều trận chiến đấu trên chiến trường Tây Nguyên, làm nhiệm vụ trinh sát, thông tin liên lạc và trực tiếp chiến đấu. Với tinh thần dũng cảm, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, năm 1968, đồng chí được kết nạp vào Đảng và được tặng danh hiệu "Dũng sĩ Quyết thắng".

Năm 2023, trong lần sưu tầm hiện vật tại gia đình đồng chí Hoàng Cao Thắng tại nhà riêng trên phố Nguyễn Khang (Hà Nội), cán bộ Bảo tàng Hậu cần - Kỹ thuật tiếp nhận chiếc bi đông quân dụng cùng Giấy chứng nhận "Dũng sĩ Quyết thắng" do đồng chí trao tặng. Đây là 2 kỷ vật đã theo người cựu chiến binh suốt những năm tháng chiến đấu trên chiến trường Tây Nguyên và gợi lại biết bao ký ức về một thời tuổi trẻ cống hiến cho Tổ quốc.

Chiếc bi đông được làm bằng kim loại, dung tích khoảng một lít, do Trung Quốc viện trợ, có nắp vặn và ca nhôm đi kèm. Theo đồng chí Hoàng Cao Thắng, trước đây bên ngoài bi đông được bọc lớp vải dày, có quai đeo chắc chắn để thuận tiện khi hành quân, vượt suối, băng rừng. Trải qua nhiều năm sử dụng, lớp vải đã rách nát, nhưng chiếc bi đông vẫn còn nguyên vẹn. Cùng với chiếc bi đông là Giấy chứng nhận "Dũng sĩ Quyết thắng" mang số 0066 do Tiểu đoàn 4 cấp ngày 6/12/1968, ghi rõ, đồng chí Hoàng Cao Thắng được tặng danh hiệu "Dũng sĩ Quyết thắng" vì hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong trận Chư Gô Tông. Theo đồng chí, trong trận đánh này, ông làm nhiệm vụ trinh sát, nghiên cứu thực địa, dẫn đường và bảo đảm thông tin liên lạc, góp phần giúp đơn vị hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu. 

Uploaded Image

Bi đông và Giấy chứng nhận “Dũng sĩ Quyết thắng

Nâng niu chiếc bi đông đã bạc màu theo năm tháng, đồng chí xúc động chia sẻ: "Tôi có nhiều kỷ vật nhưng theo thời gian đã thất lạc gần hết. Chỉ còn chiếc bi đông và Giấy chứng nhận 'Dũng sĩ Quyết thắng' được gìn giữ đến hôm nay. Mỗi lần cầm những kỷ vật này, ký ức về đồng đội và những năm tháng chiến đấu lại hiện lên như mới hôm qua".

Trao lại những kỷ vật gắn bó với mình suốt nhiều năm, đồng chí Hoàng Cao Thắng bày tỏ: "Đây là những kỷ vật đã theo tôi suốt cuộc đời quân ngũ, như những người bạn cùng vào sinh, ra tử. Nay tôi trao lại cho Bảo tàng Hậu cần - Kỹ thuật để các đồng chí lưu giữ, phát huy giá trị lịch sử, giúp thế hệ trẻ hiểu hơn về những năm tháng chiến đấu gian khổ, sự hy sinh của lớp cha anh vì độc lập, tự do của Tổ quốc".

Những hiện vật được trao tặng không chỉ góp phần bổ sung nguồn tư liệu, hiện vật phục vụ công tác nghiên cứu, trưng bày và giáo dục truyền thống, mà còn lưu giữ câu chuyện về một thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã vượt qua muôn vàn gian khổ, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc. Đối với cựu chiến binh Hoàng Cao Thắng, chiếc bi đông và Giấy chứng nhận "Dũng sĩ Quyết thắng" còn là ký ức về những đồng đội đã cùng đồng chí hành quân, chiến đấu giữa núi rừng Tây Nguyên; về những người đã mãi mãi nằm lại trên dãy Ngọc Linh nhưng tinh thần quả cảm, ý chí kiên cường và tình đồng chí, đồng đội vẫn còn được các thế hệ hôm nay trân trọng, gìn giữ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn