QUÊ HƯƠNG VÀ THỜI NIÊN THIẾU
Khả Phong quê tôi là vùng bán sơn địa thuộc châu thổ sông Hồng, là một xã miền núi ở phía tây huyện Kim Bảng, phía bắc và phía đông giáp sông Đáy, phía nam giáp quốc lộ số 21 từ miền biển Hải Hậu (Nam Định) chạy qua hữu ngạn sông Đáy, qua các xã Thanh Sơn, Thi Sơn, Liên Sơn, Khả Phong, Ba Sao, nối liền vùng đồng bằng với miền đồi núi tới Lạc Thủy - Hòa Bình; có đường Biên Hòa (được mở trong kháng chiến chống Mỹ để xe ô tô vận tải quân sự đi qua và giấu xe mỗi khi cầu Phủ Lý bị máy bay Mỹ bắn phá) qua cầu sông Đáy hợp điểm với đường số 21A tại ngã ba Cửa Đầm. Ngày nay, đường Biên Hòa được mở rộng và nâng cấp thành đường ô tô khách từ Chi Nê (Hòa Bình) qua Ba Sao, Khả Phong huyện Kim Bảng (Hà Nam) ra Đồng Văn nối với quốc lộ số 1. Địa hình quê tôi rất đa dạng, gồm vùng đồi núi, nửa đồi núi, có dãy núi đá vôi chạy dài theo hướng đông nam - tây bắc thành hình vòng cung đồ sộ như một bức trường thành bảo vệ làng xóm, tạo nên những phong cảnh hữu tình với nhiều địa danh gắn liền với lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân Khả Phong như quèn Vồng, đồi Bàn Cờ (nay là đồi Hồ Chí Minh), chùa Hang...
Nằm ở tả ngạn sông Đáy, lại là vùng bán sơn địa, nên làng mạc quê tôi hình thành theo các tuyến, cụm nằm bám sát các trục đường giao thông thủy, bộ, bên các bìa rừng và cánh đồng. Bao bọc xung quanh các làng xóm là những lũy tre ken dày. Những khu đồi rừng quê tôi vốn được coi là kho “tiền rừng” của đất Kim Bảng. Thời kỳ thực dân Pháp xâm lược, chúng đã chiếm cả vùng rừng núi này, vừa bóc lột nhân công, vừa thu nguồn lợi lớn phục vụ cho chính sách cai trị của chúng. Ngày nay, vùng đồi rừng này đang được khai phá đất hoang hóa để phát triển kinh tế địa phương.
Trong thời kỳ thực dân - phong kiến, cuộc sống của nhân dân quê tôi rất khổ cực. Tuy là một xã thuần nông nhưng quê tôi thuộc vùng bán sơn địa, đất đai phần lớn lại tập trung trong tay địa chủ, quan lại, phe giáp... cả xã lúc đó có hơn 1.000 mẫu ruộng nhưng chỉ tính riêng các địa chủ trong làng và các quan lại hàng tỉnh như Tuần Thành, Bùi Thị Thông, Trần Đoàn Khuê... đã chiếm hơn 400 mẫu, phe giáp, hậu họ gần 100 mẫu, trên 300 mẫu là ruộng công điền, phần còn lại gần 200 mẫu là của nông dân nên hầu hết người nông dân phải đi làm thuê cho địa chủ và vào rừng chặt củi đốt than, mò cua, bắt ốc sống cho qua ngày. Dưối chế độ thực dân - phong kiến, các chính sách thuế đinh, thuế điền khắc nghiệt làm cho cuộc sống của người dân quê tôi ngày càng cùng cực hơn. Cuộc sống đói khổ đó đã được người dân quê tôi đúc kết thành những câu ca: “Thôn Tiên kiếm cá, thôn Mỹ phá rừng”... Nhà thơ Xuân Diệu đã có những câu thơ tả về cuộc sống khổ cực đó của người dân quê tôi:
“Xưa dân có đồng không ruộng Hái củi về đổi cơm Đi đốt than khổ quá Mùa gặt chỉ còn rơm...”.
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, mảnh đất, con người quê hương tôi đã góp phần tạo nên nhiều kỳ tích trong công cuộc đấu tranh xây dựng và bảo vệ làng quê và đất nước. Cùng với những biến thiên của lịch sử, quê tôi cũng có nhiều thay đổi.
Từ thời vua Minh Mạng (1820-1840) đến đời vua Đồng Khánh (1885-1889), xã Khả Phong thuộc tổng Thụy Lôi 1. Thời Pháp thuộc, xã Khả Phong thuộc tổng Khả Phong, có 7 làng, gồm: Khả Phong, Khuyến Công, Do Lễ, Đồng Sơn, Cốc, Tam Chúc, Vồng. Trong đó, xã Khả Phong có 2 làng là: Khả Phong và Khuyến Công. Làng Khuyến Công không phân chia thôn, còn làng Khả Phong được chia thành 4 thôn, gồm: thôn Tiên (còn gọi là Giáp Tiên), thôn Đoài (Giáp Đoài), thôn Đông (Giáp Đông), thôn Mỹ (Giáp Mỹ). Mỗi thôn có một ngôi đình là nơi hội họp và sinh hoạt văn hóa tinh thần chung của cả thôn. Hàng năm, vào ngày 15 tháng 2 âm lịch nhân dân trong thôn tụ họp tổ chức “Việc làng” để làm lễ tế thần cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Trải qua sự khắc nghiệt của thiên nhiên và thời gian, đình thôn Tiên bị đổ nát, đình thôn Đoài và đình thôn Mỹ bị bom, pháo của thực dân Pháp phá sập nên chỉ còn đình thôn Đông là nơi tụ họp và sinh hoạt chung của cả 4 thôn.
Đình thôn Đông 2 gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử trong phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân tỉnh Hà Nam, huyện Kim Bảng nói chung và nhân dân xã Khả Phong nói riêng. Trong cuộc vận động Cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đình thôn Đông là nơi in ấn tài liệu của Tỉnh ủy Hà Nam, là nơi thành lập tủ sách cách mạng hợp pháp. Tại đây, cứ thứ bảy hằng tuần Huyện ủy Kim Bảng cho cán bộ về tổ chức các lớp học tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối, chính sách của Đảng và giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống đấu tranh cách mạng cho các tầng lớp thanh niên và quần chúng ưu tú nhằm xây dựng lực lượng nòng cốt cho phong trào đấu tranh cách mạng ở địa phương. Cũng từ những lớp học này đã hình thành nhóm nghiên cứu mác-xít. Họ là những hạt giống xây dựng chi bộ Đảng đầu tiên của huyện Kim Bảng và sự ra đời chi bộ Đảng ở Khả Phong. Sau này, nhiều đồng chí trở thành những cán bộ cốt cán của địa phương. Đình thôn Đông còn là nơi cất giấu vũ khí chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 giành chính quyền về tay nhân dân.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền cách mạng lâm thời tổ chức lại các đơn vị hành chính. Tổng Khả Phong được chia làm 3 xã: xã Liên Sơn có 3 thôn là Do Lỗ, Đồng Sơn, Bút Phong; xã Khả Phong có 2 thôn là Khả Phong và Khuyến Công; xã Ba Sao có 3 thôn là Cốc, Tam Chúc và Vồng.
Đến năm 1971, thực hiện chủ trương của Nhà nước về cải tiến hợp tác xã nông nghiệp, thôn Vồng xã Ba Sao được cắt về Khả Phong cùng với thôn Khuyến Công thành lập hợp tác xã nông nghiệp cấp cao. Từ đó xã Khả Phong có 3 thôn là Khả Phong, Khuyến Công và Vồng.
Sau Đại thắng mùa Xuân 1975, đất nước thống nhất, thực hiện chủ trương điều chỉnh địa giới hành chính tinh, huyện, xã của Nhà nước, ngày 26 tháng 6 năm 1976, Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định sáp nhập 2 xã Khả Phong và Ba Sao thành xã Khả Phong. Hợp tác xã nông nghiệp được tổ chức quy mô toàn xã, thành lập 18 xóm đồng thời là 18 đội sản xuất. Trước yêu cầu phát triển kinh tế đất nước, tháng 3 năm 1984, Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định tách xã Khả Phong thành 2 xã là Khả Phong và Ba Sao, đồng thời điều chỉnh lại địa giới hành chính của xã Khả Phong. Từ đó đến nay, xã Khả Phong có 3 thôn và được tổ chức thành 16 xóm.
Người dân quê tôi có truyền thống đoàn kết, lao động cần cù, sáng tạo và tinh thần yêu nước, kiên cường chống giặc ngoại xâm. Ngay từ thời Pháp thuộc, trên đất Kim Bảng có nhiều phong trào yêu nước chịu ảnh hưởng của phong trào Đông Du và Đông Kinh Nghĩa Thục, với các sĩ phu yêu nước có tư tưởng chống Pháp như cụ Đề Yêm ở Đồng Lạc, cụ Quản Cầu ở Lưu Xá, cụ Nguyễn Hữu Tài ở Thụy Xuyên... Hưởng ứng phong trào yêu nước của các sĩ phu yêu nước Kim Bảng, ở Khả Phong có cụ Quản Phổ làm quan “tứ phẩm” cùng cụ Đội Kình và một số sĩ phu yêu nước khác từ Thanh Hóa - Nam Định về Khả Phong lập căn cứ chống Pháp ở khu Văn Miếu tại Xốc Rôm dưới chân núi Yên Ngựa. Thời kỳ 1929-1930, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân huyện Kim Bảng phát triển mạnh, các đồng chí Hoàng Quốc Việt, Trần Tử Bình... thường xuyên về Kim Bảng và Khả Phong chỉ đạo và giúp đỡ xây dựng cơ sở cách mạng ở địa phương. Cuối năm 1930, cơ quan bí mật của Tỉnh ủy Hà Nam đóng ở xã Quyển Sơn (Thi Sơn). Cơ sở in ấn tài liệu của Tỉnh ủy đặt ở Khả Phong.
Trong những ngày Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, nhân dân xã Khả Phong quê tôi bừng bừng khí thế đấu tranh đã tham gia giành chính quyền ở huyện Kim Bảng và ở địa phương, bắt bọn cường hào lý dịch phải nộp triện đồng, giải tán chính quyền phong kiến, thiết lập chính quyền cách mạng lâm thời của xã.
Cuối tháng 9 năm 1945, Ban chấp hành Mặt trận Việt Minh lâm thời của huyện được thành lập. Dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh huyện Kim Bảng, của chính quyền cách mạng lâm thời xã, các tổ chức quần chúng ở Khả Phong được thành lập và hoạt động sôi nổi. Mọi tầng lớp nhân dân Khả Phong hăng hái thi đua thực hiện lời kêu gọi của Đảng và Bác Hồ “thi đua phát triển sản xuất, phát triển chăn nuôi, thực hành tiết kiệm, tự túc tự cấp lương thực để chống giặc đói”.
----------------------------------------------------------------------------------- 1. Theo sắc phong của vua Minh Mạng và vua Đồng Khánh cho cụ Lê Văn Phổ, nay còn lưu giữ tại nhà thờ họ Lê. 2. Năm 1981, đình thôn Đông được Nhà nước tặng Bằng có công với nước. | |
Logged
|
|
|
|
hoi_ls Thượng tá  Bài viết: 5149  | 
| Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)« Trả lời #3 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2018, 01:06:41 pm » | Trước âm mưu và những hoạt động khiêu khích của quân Pháp muốn chiếm lại nước ta lần nữa, ngày 20 tháng 12 năm 1946 Bác Hồ ra lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, tiếp đó ngày 22 tháng 12 năm 1946 Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Toàn dân kháng chiến”. Hưởng ứng lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Bác Hồ và thực hiện Chỉ thị “Toàn dân kháng chiến” của Trung ương Đảng, các tầng lớp nhân dân khắp nơi trong huyện sôi sục ý chí chiến đấu chống quân xâm lược. Hàng trăm thanh niên hăng hái tòng quân. Hàng nghìn người gia nhập lực lượng dân quân du kích ở các làng, xã với trang bị bằng các vũ khí tự tạo, bằng dao, kiếm, mã tấu, lựu đạn ngày đêm hăng say luyện tập để đánh giặc, giữ làng.
Trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp, khi các khu vực xung quanh bị địch tạm chiếm thì Khả Phong là vùng tự do ở tả ngạn sông Đáy, là nơi du kích địa phương hoạt động. Quân Pháp đã nhiều lần tổ chức đánh chiếm nhưng không chiếm được và không xây dựng được đồn bốt để lập vành đai trắng và lập tề ở Khả Phong. Do đó, chúng buộc phải chuyển sang xây dựng đồn bốt trên đỉnh núi Nguỳ ở xã Tân Sơn và thường xuyên tăng cường bắn phá vào xã Khả Phong để uy hiếp nhân dân. Khả Phong quê tôi cùng các làng mạc bên tả ngạn sông Đáy còn là cửa ngõ, là hành lang an toàn của đường dây kháng chiến từ trong vùng địch tạm chiếm ra căn cứ Khu 3, vượt qua các đường số 1, 21, 22 vào vùng tự do, băng qua những cánh đồng chiêm trũng của các xã Hoàng Tây, Văn Xá, Kim Bình, Đồng Hóa, Ngọc Sơn để nối liền vùng tự do với căn cứ kháng chiến của ta. Cùng với Ba Sao, Lạc Thủy, Khả Phong từng là nơi trú quân của bộ đội Trung đoàn 66 chủ lực (Trung đoàn Ký Con) thuộc Đại đoàn 304 và là căn cứ xuất phát của nhiều đơn vị bộ đội chủ lực vượt phòng tuyến sông Đáy đánh vào vùng địch tạm chiếm.
Là vùng tự do tiếp giáp với vùng địch tạm chiếm nên quân và dân quê tôi thường xuyên phải chiến đấu đánh trả các cuộc càn quét và bắn phá của máy bay, pháo binh của giặc Pháp. Dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng Khả Phong, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, quân và dân quê tôi đã anh dũng chiến đấu, đánh hàng chục trận, đẩy lùi các cuộc hành quân càn quét của giặc Pháp vào làng quê mình. Hưởng ứng phong trào thi đua tổng phản công của Tỉnh ủy Hà Nam, chi bộ xã đã lãnh đạo nhân dân kẻ khẩu hiệu tuyên truyền trên tường, trên vách núi... Trên đồi Bàn Cờ, nhân dân xã Khả Phong đã kẻ dòng chữ “Hồ Chí Minh muôn năm” rất to, ở cách xa 3-4 cây số vẫn có thể nhìn rõ. Đồi Bàn Cờ còn là nơi nổi lửa phát động các phong trào du kích đánh giặc, là điểm hẹn gặp gỡ của bộ đội và nhân dân giữa hai vùng tự do và địch tạm chiếm.
Trong cuộc kháng chiến trường kỳ và anh dũng chống thực dân Pháp xâm lược, vừa chiến đấu bảo vệ làng quê, nhân dân quê tôi luôn hăng hái lao động sản xuất, huy động sức người, sức của cho kháng chiến. Vượt lên những mất mát đau thương do bom đạn địch và khó khăn gian khổ, với khẩu hiệu “Tất cả cho kháng chiến thắng lợi”, hàng trăm thanh niên hăng hái tòng quân vào các đơn vị bộ đội để trực tiếp đánh giặc. Các nữ thanh niên cũng hăng hái gia nhập các đơn vị thanh niên xung phong hoả tuyến. Toàn xã có hàng nghìn lượt người tham gia dân công hoả tuyến phục vụ các chiến dịch.
Chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ giành thắng lợi ngày 7 tháng 5 năm 1954, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Trước khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, ngày 3 tháng 7 năm 1954, những tên lính thực dân Pháp cuối cùng đã phải rút khỏi Nhật Tựu - sào huyệt cuối cùng của chúng trên đất Kim Bảng. Từ đây quê hương tôi hoàn toàn giải phóng.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong 9 năm kháng chiến trường kỳ và gian khổ (1945-1954), quân và dân quê tôi đã vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, hy sinh, góp phần cùng quân và dân cả nước làm nên thắng lợi vẻ vang của cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm.
Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, bố tôi là Phạm Văn Huệ, mẹ là Nguyễn Thị Nghiễm phải đi làm thuê cấy rẽ cho địa chủ, hết mùa vụ thì đi chăn trâu thuê cho các gia đình giàu có để có cơm ăn như bao gia đình nông dân nghèo khác. Bố mẹ tôi sinh được 5 người con, ba con trai đầu (anh cả tên Hệ sinh năm 1945, tôi sinh cuối tháng 8 năm 1947, em trai tên Vệ sinh năm 1954) và hai cô con gái sau (tên là Duệ sinh năm 1957 và Dự sinh năm 1961). Tôi là con trai thứ hai trong gia đình. Tuổi thơ của anh em chúng tôi gắn với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đó là những ngày theo cha mẹ gồng gánh chạy càn, những lần chui hầm tránh bom, tránh pháo của giặc Pháp..., là những bữa cháo, bữa rau, khoai sắn đắp đổi qua ngày...
Ngày 27 tháng 10 năm 1955 là ngày hội của người nông dân Khả Phong, ngày đi cắm thẻ nhận ruộng - niềm mơ ước ngàn đời của người nông dân nay đã được thực hiện. Thắng lợi của cải cách ruộng đất đã đánh đổ hoàn toàn giai cấp địa chủ phong kiến, thực hiện chính sách người cày có ruộng, người nông dân thực sự làm chủ ruộng đồng. Hòa cùng ngày hội chung cùng nhân dân toàn xã Khả Phong, gia đình tôi cũng đi cắm thẻ nhận ruộng trong cải cách ruộng đất. Lúc này tôi đã lên tám tuổi. Tôi còn nhớ, hôm đó bố tôi dắt tôi đến nhà địa chủ T., thấy đội cải cách đang chia tài sản cho nhân dân nghèo. Một chú cán bộ đội cải cách hỏi tôi: cháu thích gì để chú cho? Tôi chỉ vào một chiếc bát sứ rất đẹp và xin chú chiếc bát đó. Từ khi được chú cán bộ đội cải cách cho chiếc bát, hằng ngày tôi ăn cơm bằng chiếc bát đó. Trong cải cách ruộng đất, gia đình tôi được phân 3 sào ruộng, 1 cái cày và “nửa” con trâu (gia đình tôi được chia chung với gia đình ông Vệ cùng xóm nên hai gia đình cứ chia nhau mỗi nhà chăn 10 ngày). Mặc dù phải chung trâu với nhà khác nhưng anh em tôi rất vui, vì lúc này nửa con trâu là tài sản có giá trị nhất của gia đình tôi. Anh em tôi chỉ mong đến lượt nhà mình chăn trâu. Mỗi khi đến lượt, anh em tôi cùng dắt trâu ra chân đồi và khu vực ven cánh đồng làng để trâu ăn cỏ. Tôi còn bé nên thường được anh trai cho cưỡi trên lưng trâu, còn anh thì dắt bộ.
Hòa bình lập lại, tôi được đi học lớp 1 do thầy Cầm, thầy Khánh, thầy Tuân dạy một số học sinh ở đình thôn Đông. Lên lớp 2 tôi mới được vào học ở trường làng. Hằng năm, trước ngày 19 tháng 5, chúng tôi được các thầy cô tổ chức lên đồi Hồ Chí Minh để phát cỏ và sửa sang nét chữ. Tôi được biết dòng chữ “Hồ Chí Minh muôn năm” do Đảng bộ và nhân dân Khả Phong khắc trên sườn đồi từ năm 1949 để thể hiện lòng tôn kính Bác Hồ và biết ơn công lao của Bác đã mang lại độc lập, tự do cho nhân dân, đồng thời cổ vũ nhân dân hăng hái tham gia kháng chiến. Từ năm 1957 đến năm 1961, tôi được vào học ở Trường cấp II Khả Phong. Năm 1961, tôi đạt danh hiệu “Học sinh hai tốt” và được đi tham quan Trường Bắc Lý- huyện Lý Nhân - một điển hình tiên tiến trong phong trào “Hai tốt” của ngành Giáo dục. Những năm học cấp II, buổi sáng tôi đến trường, buổi chiều đi chăn trâu, khi về trên lưng trâu của tôi thường có một đon cỏ cho trâu hoặc một bó khoai nước mang về cho mẹ nấu cám cho lợn. Những năm đầu cấp II, ngày nghỉ chủ nhật không phải đến trường tôi thường theo bố và anh cả vào rừng chặt củi. Có nhiều hôm mải tìm những cây củi mình ưng ý trong rừng nên tôi bị lạc, làm bố và anh phải đi tìm. Hằng năm vào mùa hè cũng là lúc cánh đồng quê tôi ngập nước mênh mông, thuyền nan có thể đi được vào giáp dãy núi Ba Sao. Nhiều hôm một mình tôi tự đi thuyền vào rừng chặt được cả thuyền củi mang về để dùng và đem bán cho lò gốm ở thị trấn Quế huyện Kim Bảng lấy tiền mua gạo và thức ăn. Những năm học lớp 4, lớp 5, tôi và trẻ con trong làng thường thả trâu ở bãi tha ma rất rộng ven cánh đồng làng. Hằng ngày làng tôi có vài chục đứa đưa trâu ra đó để thả. Chúng tôi thường chơi trò ẩn tìm hoặc chia thành hai phe đánh trận giả.
Hè năm 1963, tôi học hết lớp 7 và thi tốt nghiệp cấp II. Bố mẹ khuyên tôi đi học tiếp cấp III, nhưng lúc này các em tôi còn bé, trường lại ở xa và chỉ có bố và anh tôi là lao động chính trong gia đình, mẹ tôi ốm yếu chỉ làm việc nhà; trong khi đó, phong trào thi đua của hợp tác xã lúc này là nhà nào có nhiều công, có nhiều điểm thì được nhiều thóc nên tôi xin nghỉ học ở nhà tham gia lao động sản xuất phụ giúp gia đình.
Theo tiếng gọi của chiến trường miền Nam, năm 1965, anh Hệ nhập ngũ. Sau một thời gian huấn luyện, anh tôi đi B. Từ khi anh cả nhập ngũ, mẹ tôi ốm đau luôn, hoàn cảnh gia đình càng ngày càng khó khăn. Thời kỳ này, sau khi gây ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ (tháng 8 năm 1964), đế quốc Mỹ đã mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân tăng cường đánh phá miền Bắc. Phối hợp với các lực lượng vũ trang đánh trả cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, nhân dân quê tôi vừa chiến đấu, vừa sản xuất, bảo vệ quê hương và hậu phương lớn miền Bắc, chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam. Từ đây, mọi hoạt động của nhân dân quê hương tôi đều chuyển vào nếp sống thời chiến.
Ngày 15 tháng 2 năm 1965, hưởng ứng phong trào “Thanh niên làm theo lời Bác” và “Thanh niên ba sẵn sàng”, tôi tình nguyện đi tham gia xây dựng công trình thủy điện Thác Bà tại tỉnh Yên Bái (năm đó tôi chưa đầy 18 tuổi). Ban đầu tôi làm công nhân lao động phổ thông, chuyên xây dựng lán trại cho công nhân và khai thác đá làm đường. Lần đầu tiên đi thoát ly gia đình, phải sống tự lập trong môi trường tập thể, tôi không khỏi nhớ nhà. Nhưng tôi luôn lao động tích cực và đạt ngày công theo quy định. Trong các đợt bình bầu thi đua, tôi đều đạt danh hiệu Lao động tiên tiến. Sau một năm lao động tích cực, tôi được Nhà máy thủy điện Thác Bà tuyển chọn đi học lái xe ô tô. Tháng 6 năm 1966, tôi về học lái xe tại Trường đào tạo lái xe của Công ty Thủy điện Thác Bà. Với trình độ tốt nghiệp cấp II, nên khi bắt đầu vào học tôi gặp rất nhiều khó khăn. Nhưng nhờ sự dạy bảo tận tình của các thầy giáo cùng sự chịu khó mày mò học hỏi, tiếp thu kiến thức tốt nên tôi tiến bộ rất nhanh. Ở đây tôi được đào tạo cơ bản từ lý thuyết đến thực hành... Giai đoạn này, không quân Mỹ đánh phá rất ác liệt vào tỉnh Yên Bái và khu vực công trường thủy điện Thác Bà. Trường chúng tôi phải sơ tán vào một khu rừng già cách nhà máy khoảng 7 cây số. Đây là khu vực sinh sống của đồng bào người dân tộc Cao Lan.
Buổi sáng chúng tôi học lý thuyết, buổi chiều thì tự ôn. Hằng ngày, sau buổi học lý thuyết và ăn bữa cơm trưa, mấy anh em chúng tôi rủ nhau vào trong bản vừa ôn bài vừa sơ tán. Một hôm máy bay Mỹ đánh phá vào bản, một số nhà dân bị cháy, nhiều người chết và bị thương. Lúc đó, chúng tôi ở cách xa vị trí bom nổ khoảng 100 mét, đã nhanh chóng đến cứu chữa nhà cháy và sơ cấp cứu bị thương, cùng dân bản đưa người bị thương đi viện. Khi xong việc, tôi mới nhớ mình bị mất cuốn sách lý thuyết động cơ ô tô, tôi cố tìm mãi nhưng không thấy. Hôm sau, khi kiếm tra bài tôi không thuộc nên bị thầy giáo cho điểm kém. Sau đó, tôi phải mượn sách của anh Minh - lớp trưởng chép lại từ đầu. Cũng thời gian này, tôi nhận được tin buồn do gia đình báo lên. Anh Hệ tôi đã hy sinh ở tuyến đường 20 Quyết Thắng, đơn vị và địa phương đã báo về gia đình. Nhận được tin, tôi rất buồn, những ký ức về người anh cả của tôi ngày xưa cứ hiện lên. Tôi buồn mất mấy ngày, có lúc muốn bỏ cả học để về nhà. Anh Minh - lớp trưởng và các bạn bè cùng học đã đến động viên tôi cố gắng vượt qua nỗi đau. Mấy ngày sau đó tôi nén đau buồn và tiếp tục cố gắng học tập để xứng đáng với sự kỳ vọng của gia đình và sự hy sinh của anh trai cũng như bao anh hùng, liệt sĩ đã không tiếc máu xương để chúng tôi được học tập ở hậu phương.
Sau 8 tháng học lý thuyết với kết quả tốt, tôi được chuyển sang học thực hành, được các trợ giáo chỉ bảo nhiệt tình nên tôi đã nắm vững cả lý thuyết và thực hành. Sau thời gian hoàn thành thực hành trên đường, những tháng cuối cùng chúng tôi thường phụ xe, phụ lái cho một lái xe chính chở đá từ công trường khai thác đá khu vực Nhà máy thủy điện Thác Bà ra sân bay Cổ Phúc, cách thị xã Yên Bái về phía bắc khoảng 7 cây số. Giai đoạn này nước ta đang xây dựng sân bay Cổ Phúc - Yên Bái. Cứ mỗi ngày 2 chuyến, chúng tôi chạy từ Thác Bà xuống Yên Bái, cả đi lẫn về khoảng 120 cây số. Thời gian này, máy bay Mỹ đánh phá thị xã Yên Bái rất ác liệt. Do vậy chúng tôi phải vận chuyển vào ban đêm, từ 4 giờ chiều hôm trước đến 8 giờ sáng ngày hôm sau. Một hôm, đoàn xe của chúng tôi đi đến đầu thị xã Yên Bái thì bị máy bay Mỹ đánh bom trúng chiếc xe đi đầu. Đó là xe của anh Duyến (lái chính) và anh Phúc (học cùng lớp tôi) là lái phụ. Xe trúng bom bị lật ngửa, bẹp rúm ca-bin, cả lái chính và lái phụ đều hy sinh. Xe chúng tôi đi sau phải dừng lại cùng các lái xe khác tìm mọi cách để đưa thi hài hai anh từ trong ca-bin ra. Xe của tôi phải đổ đá xuống đường để chở anh Duyến và anh Phúc về Thác Bà để đơn vị tổ chức mai táng.
Sau 3 tháng thực hành ở bãi tập và trên đường, tháng 5 năm 1967 tôi tốt nghiệp và được cấp bằng lái xe tải. Sau đó tôi dược điều về công tác tại công trường 3 Nhà máy thủy điện Thác Bà. | |
Logged
|
|
|
|
hoi_ls Thượng tá  Bài viết: 5149  | 
| Re: Ký ức thời trận mạc (Trung tướng Phạm Xuân Thệ)« Trả lời #4 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2018, 01:10:28 pm » | Chương hai NHỮNG NGÀY ĐẦU NHẬP NGŨ - VÀO CHIẾN TRƯỜNG THAM GIA NHỮNG TRẬN ĐÁNH ĐẦU TIÊN
Sau khi về công trường 3 Nhà máy thủy điện Thác Bà, tôi được phân công tham gia khai thác và vận chuyển đá sỏi để xây dựng nhà máy. Nhưng nhận công việc lái xe chưa được bao lâu thì theo yêu cầu chi viện cho chiến trường miền Nam, ngày 5 tháng 8 năm 1967 tôi được lệnh gọi nhập ngũ (năm đó tôi hơn 19 tuổi). Được nhập ngũ lúc này là niềm vinh dự đối với tôi. Vì từ ngày nhận được tin anh trai cả hy sinh tôi luôn ấp ủ tâm nguyện sẽ nhập ngũ để tiếp bước anh đi đánh giặc, cứu nước. Sau ba ngày tập trung và nhận quân trang ở Yên Bái, đoàn tân binh chúng tôi bắt đầu hành quân về Thái Nguyên. Chúng tôi đi từ Thác Bà - Yên Bái qua bến phà Hiên về Nông trường Tháng 10 ở Tuyên Quang. Sau một đêm hành quân, sáng hôm sau chúng tôi dừng chân ở một bản người dân tộc Cao Lan thuộc Nông trường chè Tháng 10. Đây là lần đầu tiên tôi đi bộ xa, nên hai bàn chân sưng vù, bỏng rát tưởng chừng không thể đi được nữa. Tranh thủ lúc nghỉ ban ngày, làm theo kinh nghiệm của các đồng chí cán bộ tiểu đội và trung đội, đồng chí tiểu đội trưởng lấy muối giúp tôi hòa nước ấm để ngâm chân nên các vết phồng rộp xẹp dần, tối hôm đó tôi lại tiếp tục hành quân được. Cứ như vậy, ban đêm hành quân, ban ngày chúng tôi lại nghỉ. Sau 4 đêm hành quân, chúng tôi về đến một xóm nhỏ nằm xen lẫn trong khu rừng già phía đông chân dãy núi Tam Đảo thuộc xã Bình Sơn huyện Đại Từ tỉnh Bắc Thái.
Đến vị trí mới, tôi được biên chế về Tiểu đội 9 Trung đội 3 Đại đội 3 Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 2A thuộc Đoàn 250 Quân khu Việt Bắc. Vì doanh trại đơn vị không đủ cho lực lượng tân binh mới nhận, lãnh đạo, chỉ huy đơn vị chủ trương: Tận dụng mọi khả năng để đảm bảo tại chỗ, chủ động tổ chức cho bộ đội khai thác nguyên vật liệu xây dựng thêm doanh trại. Mấy ngày sau đó, chúng tôi bắt tay vào khai thác gỗ, tranh, tre và nứa để xây dựng doanh trại. Sau gần nửa tháng khắc phục khó khăn, gian khổ, vất vả, cơm nắm, cơm vắt với muối vừng, muối lạc, vượt núi, băng rừng, trèo đèo, lội suối, chúng tôi đã xây dựng xong cơ bản doanh trại, đáp ứng đủ nhu cầu ăn ở cho lực lượng tân binh. Đầu tháng 9 năm 1967, chúng tôi bắt đầu bước vào huấn luyện. Giai đoạn này, ban ngày chúng tôi học chính trị và huấn luyện các động tác kỹ thuật cá nhân chiến đấu, xạ kích và các hình thức chiến thuật từ cá nhân đến tiểu đội. Ban đêm chúng tôi luyện tập hành quân đường dài, trên lưng chúng tôi khi hành quân luyện tập là những chiếc sọt đan bằng tre đựng đầy đất đá, khoảng 18-20 cân. Cứ sau một tuần, các đồng chí chỉ huy lại chỉ đạo tăng cân lên, ai mang được nặng hơn thì được biểu dương khen thưởng. Do đó, chúng tôi thi đua, người nào cũng muốn mang nặng hơn người khác. Những ngày đầu, hai vai và lưng tôi ê ẩm, tưởng chừng không nhấc nổi chiếc sọt đất lên vai, nhưng rèn luyện dần dần, chỉ sau một tuần tôi đã mang được từ 25-28 cân, rồi 30 cân và là một trong những người mang được số cân nặng nhất trong tiểu đội.
Sau 3 tháng huấn luyện, chúng tôi được bắn đạn thật các loại súng. Sau đó tôi được biên chế về tổ hỏa lực và được phân công là xạ thủ chính trung liên RPĐ. Từ đó, hằng ngày tôi làm bạn và huấn luyện với khẩu trung liên nặng hơn 7 cân. Với ý thức “Thao trường có đổ mồ hôi, thì chiến trường mới bớt rơi máu đào”, là một thanh niên có sức khỏe, nên tôi luôn quyết tâm rèn luyện, học tập hăng hái và tích cực tham gia công việc của tiểu đội, trung đội, bắn đạn thật luôn đạt điểm cao.
Đời tân binh của tôi có nhiều kỷ niệm đáng nhớ nhưng nhớ nhất là một lần đơn vị tổ chức cho bộ đội đi chặt nứa xây dựng doanh trại, tôi được phân công đi lấy măng để cải thiện cho tiểu đội. Vì quá mải tìm măng, tôi bị lạc trong rừng không biết đường ra, tiểu đội phải cho n |
|
|