Khác

Ký ức trời đêm

Trong biên chế của Không quân Nhân dân Việt Nam, lực lượng bay đêm, đánh đêm thuộc loại ít hơn cả. Các trận đánh về ban đêm cũng diễn ra không nhiều. Hoạt động của các phi công bay đêm lặng lẽ giống như những chiến sĩ đặc công trên trời đêm, nhưng với lực lượng mỏng như vậy, những trận đánh ít như vậy, chiến công của họ không hề nhỏ. Tính chung toàn lực lượng phi công tiêm kích bay đêm trên loại máy bay MiG-21 trong giai đoạn từ tháng 2 năm 1967 đến tháng 12 năm 1972 đã có 16 phi công bắn rơi má

Lai Châu05/07/2026Nguyễn Công Huy (tức thành viên phicôngtiêpkích) (xã nậm mạ)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
CHUYỆN CŨ
Có lẽ, phải lật ngược lại những trang sử về những thòi gian xa xưa một chút.

Trong tất cả các biên niên sử của Không quân các nước trên thế giới, tôi thấy hầu như ít nhắc đến những trận không chiến về ban đêm. Chắc hẳn, vào những thời gian ấy, các loại máy bay tiêm kích chưa đủ tính năng đi đánh chặn về ban đêm nên ít có những trận chiến về đêm. Chỉ tới giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh thế giới thứ 2, sau khi loại máy bay Metxersmit-110 (Me-110) của Đức ra đời, có lắp đặt hệ thống ra-đa trên máy bay thì bấy giờ mới có những cuộc đánh chặn về ban đêm, nhưng thực ra số lượng cũng không nhiều.

Với Không quân nhân dân Việt Nam, vào những năm 1963 - 1964, hoạt động khiêu khích, phá hoại của Mỹ - Ngụy trên miền Bắc Việt Nam chủ yếu là dùng máy bay trinh sát, thả biệt kích, rải truyền đơn, thả “hàng tâm lí”... Lực lượng vũ trang các địa phương, nòng cốt là bộ đội Phòng không đã một số lần bắn rơi máy bay, bắn chìm, bắn cháy tàu biệt kích địch.

Sau một thời gian cùng cơ quan Tham mưu nghiên cứu quy luật hoạt động của máy bay biệt kích địch, đồng chí Đặng Tính, Chính ủy Quân chủng, nguyên Cục trưởng Cục Không quân đã đề xuất và được Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng nhất trí chủ trương sử dụng Không quân đánh máy bay địch. Các kế hoạch tác chiến và phương pháp tổ chức thực hiện nhiệm vụ đã được xây dựng từng bước vững chắc.

Vậy là, kể từ đây dần dà đã có những trận chiến đấu về ban đêm để mở ra một trang sử mới cho truyền thông của Không quân nhân dân Việt Nam.

Nếu nói về đánh đêm, không chiến ban đêm thì không thể không nhắc đến trận đánh diễn ra vào đêm 15, rạng sáng ngày 16 tháng 2 năm 1964 của tổ bay với các phi công Nguyễn Văn Ba và Lê Tiến Phước bay trên loại máy bay T-28 đã bắn rơi chiếc C-123K (chiếc máy bay vận tải loại nhỏ dùng để thả biệt kích).

Chiếc máy bay khu trục T-28 mang tên “Du mục” do Mỹ chế tạo năm 1950. Khi trang bị cho lực lượng Không quân Hoàng gia Lào (vào năm 1961), nó đã được cải tiến, lắp thêm 2 khẩu trọng liên 12,7 li. Chiếc T-28 này do phi công Bun Khăm điều khiển đã bay sang phía Việt Nam đầu hàng, hạ cánh xuống sân bay Bạch Mai vào trưa ngày 16 tháng 9 năm 1963.

Quân chủng Không quân tiếp nhận chiếc máy bay này và giao cho lực lượng kỹ thuật của Quân chủng tìm hiểu tính năng và khôi phục nó để có thể sử dụng nó vào nhiệm vụ phục kích, chặn đánh các máy bay của chính quyền Việt Nam Cộng hòa thường thả biệt kích xuống khu vực rừng núi Tây Bắc của ta trong giai đoạn ấy.

Phòng kỹ thuật máy bay đã cử một số thợ giỏi trực tiếp cùng cán bộ kỹ thuật của xưởng A-33 nghiên cứu, kiểm tra và tiến hành các công tác chuẩn bị cần thiết. Đồng chí Nguyễn Tuấn, thợ cơ giới trên không, có kinh nghiệm đã cùng tổ kỹ thuật động cơ, tháo toàn bộ động cơ máy bay, kiểm tra từng chiếc xi-lanh, vòng găng, nến điện, vòi phun xăng, máy nén, đo lại các tiêu chuẩn giãn cách... Đồng chí Nguyễn Bá Phúc, tổ trưởng đặc thiết cùng các thợ giỏi của tổ điện thay nhau trườn vào khoang máy bay đánh dấu và ghi vào trí nhớ từng cuốn dây điện, vẽ sơ đồ và kiểm tra mạng điện của máy bay...

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Ký ức trời đêm« Trả lời #3 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2020, 04:13:34 pm »

Sau những ngày lao động vất vả, chiếc máy bay T-28 này đã hoạt động bình thường.

Hai phi công: Thượng úy Nguyễn Văn Ba và Trung úy Lê Tiến Phước đều là giáo viên bay trên loại máy bay Iak-18 của trường Hàng không, nhận nhiệm vụ nhanh chóng nắm vững kỹ thuật bay trên chiếc T-28 ấy.

Công tác huấn luyện chuyển loại được tiến hành rất khẩn trương, với cường độ cao: từ học lí thuyết đến thực hành các bài bay cơ bản và ứng dụng chiến đấu ban ngày xong, lại chuyển sang bay đêm ngay.

Giai đoạn đầu, hai anh được phi công Bun Khăm của Lào hướng dẫn.

Sau một thời gian bay huấn luyện, khi đã nắm vững tính năng và điều khiển thành thạo chiếc T-28 thì phát sinh những khó khăn mới. Đó là một số linh kiện và lốp của chiếc T-28 này đã hết hạn sử dụng. May sao, bấy giờ lại có một chiếc T-28 của Không quân Vương quốc Thái Lan hạ cánh ở phía Tây Quảng Bình (không rõ lí do bỏ chạy sang Việt Nam hay bay hết dầu phải hạ cánh bắt buộc) rồi bỏ ở đó.

Lực lượng kỹ thuật của Quân chủng đã vào Quảng Bình, tháo động cơ, tháo 2 cánh và chở chiếc T-28 ấy về sân bay Bạch Mai, lấy các linh kiện còn tốt để lắp cho chiếc T-28 của Không quân Hoàng gia Lào bấy giờ đã được đưa vào biên chế chiến đấu với số hiệu 963.

Tháng 1 năm 1964, chiếc T-28 mang số hiệu 963 được trang bị 2 khẩu súng 12 li 7 với 200 viên đạn đã đưa vào trực ban chiến đấu.

Lần xuất kích đầu tiên và những lần xuất kích sau đó, phi công ta có lần không phát hiện được mục tiêu, có lần phát hiện được nhưng lại không bám theo kịp, có lần tiếp cận tốt nhưng lại bắn không trúng...

Vào giai đoạn này, Quân chủng chưa được trang bị loại ra-đa dẫn đường, chỉ có ra-đa cảnh giới nên việc dẫn dắt gặp nhiều khó khăn.

Sau nhiều lần tổ chức rút kinh nghiệm giữa tổ bay cùng các thành phần chỉ huy, dẫn đường..., đã tìm ra được những vấn đề cần khắc phục trong khâu tổ chức dẫn dắt. Tất cả đã sẵn sàng cho những chuyên xuất kích tiếp theo.

Đêm 15 tháng 2 năm 1964, vào lúc 23h30 phút, khi ra-đa vòng ngoài bắt được mục tiêu, sở chỉ huy Quân chủng lệnh cho tổ bay vào cấp 1.

1h07 phút sáng ngày 16 tháng 2 năm 1964, hai phi công Nguyễn Văn Ba và Lê Tiến Phước trên chiếc máy bay T-28 số hiệu 963 nhận lệnh cất cánh.

Đêm ấy là đêm trăng thượng tuần, mặt trăng trông mỏng như lá lúa, hắt ánh sáng mờ ảo lên muôn vật, nhưng thực tế, bầu trời vẫn còn tối lắm.

Tổ bay nhận thông báo từ sở chỉ huy. Phi công Lê Tiến Phước ngồi buồng lái sau tập trung giữ tốt các số liệu dẫn bay. Phi công Nguyễn Văn Ba ngồi ở buồng lái trước tập trung quan sát.

Khi đến cự li 500 mét, phi công Nguyễn Văn Ba phát hiện được hình dáng chiếc vận tải C-123K với 2 động cơ đang bay ở phía trước. Anh lập tức ấn nút lên đạn, xin vào công kích và nhanh chóng đưa chiếc T-28 vào vị trí công kích. Anh ấn cò liền hai loạt, hết 163 viên đạn, đến loạt thứ 3 thì súng bị tắc, nhưng hai anh kịp thấy chiêc C-123K đã phụt lửa, tròng trành, nghiêng về phía bên trái rồi rơi xuống rất nhanh ở khu vực gần biên giới Việt - Lào.

Sở chỉ huy lệnh cho các anh quay về sân bay Gia Lâm hạ cánh.

Sau này, một tên biệt kích bị ta bắt đã khai: toàn bộ phi hành đoàn trên máy bay C-123K của Không lực Việt Nam Cộng hòa và toán biệt kích đều tử nạn.

Đây là chiến thắng đầu tiên của Không quân nhân dân Việt Nam, đã mưu trí, sáng tạo, sử dụng máy bay T-28 của Mỹ tiêu diệt máy bay C-123K của Mỹ làm nhiệm vụ thả biệt kích vào ban đêm, mở đầu cho những chiến thắng liên tiếp về sau này.

Gần 2 năm sau, đêm 3 tháng 2 năm 1966, phi công Lâm Văn Lích bay trên loại máy bay MiG-17 đã bắn rơi 2 chiếc AD-6 trong đêm ấy.

MiG-17 là loại máy bay tiêm kích có tốc độ xấp xỉ âm thanh đầu tiên của Không quân Xô-viết, được sản xuất để thay thế cho loại MiG-15 và đưa vào sử dụng từ tháng 10 năm 1952 nhưng nó không kịp tham chiến trong cuộc chiến tranh Triều Tiên.

MiG-17 có các phiên bản: MiG-17A, MiG-17F, MiG-17PR. Nó được trang bị 1 khẩu pháo 37 li và 2 khẩu 23 li.

MiG-17PF là loại được lắp đặt ra-đa bắt mục tiêu trên không, nhằm phục vụ cho nhiệm vụ đánh đêm. Nó cũng được lắp đặt hệ thống tăng lực, vì vậy, lực đẩy của động cơ tăng lên đáng kể, có thể cơ động và tăng tốc tốt hơn trong không chiến.

Phi công Lâm Văn Lích trực ban chiến đấu đêm mồng 3 tháng 2.

Sau khi hệ thống ra-đa phát hiện được các máy bay AD-6 của Không quân Mỹ bay vào vùng trời Hòa Bình để đánh tuyến đường 15A, đoạn Suối Rút - Quan Hóa và đường 21A, đoạn Hòa Bình - Tân Lạc, sở chỉ huy Quân chủng lệnh cho Lâm Văn Lích xuất kích chiến đấu.

Chiếc MiG-17PF nhanh chóng lăn ra đường băng, bật tăng lực, xé gió lao vút vào khoảng không tĩnh mịch của một đêm mùa Đông.

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Ký ức trời đêm« Trả lời #4 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2020, 07:26:17 pm »

Phi công Lâm Văn Lích được dẫn ra phía Hòa Bình, lấy độ cao lên 3.000 mét, rồi lên tiếp đến 4.500 mét và vòng bám vào tốp máy bay Mỹ đang hoạt động ở khu vực Tân Lạc - Hòa Bình. Lúc này, ra-đa trên máy bay chưa được mở để tránh sự phát hiện của đối phương. Vì không nhìn thấy nhau, tại vùng tròi phía Tây Nam Tân Lạc, địch vòng đi vòng lại, thành thử máy bay ta rơi vào thế đối đầu. Tới khi chúng bay đến phía Tây Bắc Tân Lạc, lại tiếp tục vòng đi vòng lại lần nữa, vậy là máy bay ta đang từ thế ngang bằng xông ngay lên phía trước, sở chỉ huy quyết định cho Lâm Văn Lích vòng trái một vòng và đã lật ngược được tình thế, máy bay ta bám vào phía sau tốp thứ nhất. Khi bay ngang khu vực Mộc Châu, phi công Lâm Văn Lích bật ra-đa trên máy bay và phát hiện được ngay máy bay địch đang ở phía trước, cách 8 km. Anh bám sát đến cự li 800 mét, tăng tốc độ và dự định đến cự li 400 mét sẽ nổ súng.

Bất ngờ, mục tiêu trên màn hình bỗng chao đảo và biến mất.

Có thể, đây là chuyến đánh đêm đầu tiên nên kinh nghiệm điều khiển qua màn hình ra-đa chưa có. Cũng có thể vì 2 máy bay địch bay sát nhau nên tính năng của ra-đa trên máy bay không cho phép bắt chính xác từng chiếc được. Mà cũng có thể, đúng vào thời điểm ấy, phi công địch lại cơ động đột ngột theo hướng và độ cao, hoặc là do nhiễu của địch...

Phi công Lâm Văn Lích quyết định chuyển sang quan sát bằng mắt thường. Khi mắt vừa rời khỏi màn hình ra-đa, hướng ra ngoài bầu tròi đêm thì anh thấy máy bay địch đen sì đang bay ngay sát phía trước, phía dưới cánh MiG-17 của anh một chút. Anh liền giảm tốc độ bay, cho máy bay mình lao xuống thấp, chiếm vị trí công kích. Một sự may mắn tình cờ đã xảy ra: đúng lúc ấy các máy bay địch lại bật đèn nhấp nháy liên lạc với nhau. Bấy giờ anh Lâm Văn Lích mới biết phía trước máy bay mình không phải chỉ có 1 chiếc mà là 2 chiếc máy bay địch. Anh bình tĩnh điều khiển máy bay của mình, lấy điểm ngắm vào giữa 2 đèn của cánh đuôi chiếc đang bay bên trái và xiết cò. Một luồng đạn dài lao thẳng vào máy bay đối phương. Liếc sang phía bên phải, anh thấy thằng bay bên phải đang tìm cách chạy trốn nhưng lại quên tắt đèn cánh. Anh áp theo, bám sát và nện tiếp một loạt đạn dài. Luồng đạn găm thẳng vào thằng địch. Nó hết đường trốn chạy.

Anh được Sở chỉ huy dẫn về hạ cánh tại sân bay Đa Phúc.

Đây là 2 chiếc AD-6 đầu tiên của Hải quân Mỹ bị MiG-17 bắn hạ trong trận không chiến ban đêm.

Và đấy cũng chính là những cột mốc lịch sử liên quan đến hoạt động đêm của Không quân nhân dân Việt Nam.

Khi đoàn bay MiG-21 khóa 3 của chúng tôi tốt nghiệp về nước vào cuối tháng 4 năm 1968 thì tình hình chiến sự đã có nhiều thay đổi.

Năm ấy là năm sẽ diễn ra cuộc bầu cử Tổng thống lần thứ 37 ở Mỹ.

Ngay từ mồng Một Tết Nguyên Đán năm 1968 (năm Mậu Thân), Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đã đồng loạt tấn công 7 thành phố lớn khắp miền Nam Việt Nam và cũng trong năm 1968, vào ngày 31 tháng 3, Tổng thống Johnson buộc phải tuyên bố tạm ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra. Sau đó, dưới sức ép của giới quân sự, quyết định này đã mở rộng thành từ vĩ tuyến 19 trở ra. Đến ngày 31 tháng 10 năm 1968 thì Johnson lại phải tuyên bố chấm dứt chiến dịch oanh kích đường không lớn nhất trong lịch sử cận đại, đó là chiến dịch “Sấm rền” (Rolling Thunder). Tổng chi phí cho chiến dịch là con số khổng lồ nhưng hiệu quả thì thấp chưa từng thấy.

Bất chấp các đợt đánh phá hủy diệt, miền Bắc Việt Nam vẫn đứng vững và cách mạng miền Nam vẫn lớn mạnh, còn chính quyền Mỹ thì ngày càng sa lầy về chiến lược, không tìm ra lối thoát mà báo chí phương Tây ví một cách văn vẻ là “không thấy chút ánh sáng nào phía cuối đường hầm”.

Mỹ đã buộc phải tiến hành một loạt các điều chỉnh về chiến thuật trong lúc thay đổi các nhân sự cấp cao trong bộ máy chiến tranh, sẵn sàng cho những bước leo thang mới.

Dự đoán sẽ cần có lực lượng bay đêm cho giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, cấp trên đã chỉ thị sớm thành lập Đại đội bay đêm.

Cuối tháng 6 năm 1968, Trung đoàn Không quân 921 đã có cuộc chấn chỉnh lại tổ chức. Lực lượng phi công được biên chế thành 3 Đại đội bay: 2 Đại đội bay ngày và 1 Đại đội bay đêm. Hai Đại đội bay ngày mang phiên hiệu Đại đội 1 và Đại đội 3. Đại đội bay đêm là Đại đội 5 (sau này mang phiên hiệu Phi đội 5).

(Thực ra, lực lượng phi công MiG-21 đánh đêm của Trung đoàn Không quân 921 đã được tổ chức, huấn luyện và trực ban chiến đấu từ tháng 2 năm 1967. Khi đó mới chỉ có 1 Đội gồm 3 phi công là Hà Văn Chúc (Đội trưởng), Hoàng Biểu và Nguyễn Văn Thuận, sau đó thêm Trung đoàn phó Phạm Ngọc Lan tham gia bay đêm và trực tiếp chỉ đạo về hay đêm.

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Ký ức trời đêm« Trả lời #5 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2020, 08:10:22 pm »

Đến đầu năm 1968, do yêu cầu nhiệm vụ, Đội hay đêm đã chuyển sang đánh ngày).

Đại đội 5 khi ấy có: Đại đội trưởng Đinh Tôn, Đại đội phó Nguyễn Đăng Kính, Chính trị viên Phan Minh Thành, Chính trị viên phó Nguyễn Văn Thành và 3 Trung đội bay với 14 phi công tiêm kích MiG-21.

Các cán bộ Đại đội và Trung đội của Đại đội 5 vào thời điểm thành lập Đại đội đều đã lập được thành tích bắn rơi máy bay Mỹ. Đại đội trưởng Đinh Tôn bắn rơi 2 chiếc không người lái (sau này còn bắn rơi thêm 2 chiếc khác nữa: 1 chiếc F-4 và 1 chiếc OV-10), Đại đội phó Nguyễn Đăng Kính đã bắn rơi 4 máy bay Mỹ (2 chiếc F-105, 1 chiếc EB-66, 1 chiếc F-4) và sau này bắn thêm 2 chiếc (1 chiếc F-4 và 1 chiếc không người lái), Trung đội trưởng Hoàng Biểu đã bắn rơi 1 F4 của Mỹ (sau này bắn thêm 1 chiếc không người lái), Trung đội trưởng Nguyễn Văn Minh bắn rơi 2 chiếc F-4 (bằng rốc-ket trong cùng 1 trận) và sau này bắn thêm 1 chiếc F-4 nữa, Trung đội trưởng Nguyễn Văn Thuận đã bắn rơi 2 chiếc (1 chiếc F-105 và 1 chiếc không người lái).

Biên chế của các Trung đội bay như sau:

Trung đội 1: Trung đội trưởng Hoàng Biểu

Các Trung đội viên:

- Phạm Văn Mạo

- Đặng Xây

- Nguyễn Văn Quang

Trung đội 2: Trung đội trưởng Nguyễn Văn Minh Các Trung đội viên:

- Trần Cung

- Vũ Đình Rạng

- Trần Thông Hào

- Nguyễn Hồng Mỹ

Trung đội 3: Trung đội trưởng Nguyễn Văn Thuận Các Trung đội viên:

- Vũ Xuân Thiều

- Nguyễn Cát A

- Nguyễn Công Huy

- Trần Ngọc Nhuận

Nhiệm vụ của Đại đội 5 là huấn luyện bay đêm để tham gia trực ban chiến đấu ban đêm, đánh đêm là chủ yếu, tuy nhiên, vẫn phải tham gia trực ban chiến đấu ban ngày cùng với các lực lượng của Đại đội 1 và Đại đội 3.

Nếu nói về quy trình đào tạo phi công bay đêm thì tôi có thể nói vắn tắt thế này: khi các phi công bay ngày đã nắm vững được kỹ thuật bay, thành thạo hay với các bài hay trong điều kiện thời tiết giản đơn và thời tiết phức tạp ban ngày rồi, bây giờ mới chọn lựa những phi công hay giỏi để chuyển sang huấn luyện hay đêm. Nhưng quy trình ấy không phù hợp với hoàn cảnh lúc bấy giờ. Vậy là phải “đốt cháy giai đoạn” hàng cách đưa ngay một số phi công bay ngày chuyển luôn sang bay đêm cho dù so sánh với những “tiêu chuẩn hàn lâm” thì chưa đạt yêu cầu.

Lợi dụng thời gian ném bom hạn chế của Không quân Mỹ, các ban bay đêm được tổ chức tích cực nhằm nhanh chóng nâng cao trình độ cho đội hình của Đại đội. Chỉ trong một thời gian ngắn, được sự dìu dắt và thừa hưởng kinh nghiệm của các phi công lớp đàn anh, cùng với sự nỗ lực, cố gắng của bản thân từng phi công trẻ, toàn bộ phi công của Đại đội 5 đã được rèn luyện, nâng cao tay nghề, tràn đầy quyết tâm sẵn sàng lao vào cuộc chiến.

Trong giai đoạn này, Liên-xô cũng viện trơ cho Không quân Việt Nam 36 chiếc máy bay MiG-21 PFM (F-94) nên khí thế càng hăng hái.

Loại máy bay MiG-21 có 4 thế hệ cả thảy. Thế hệ thứ nhất là các máy bay loại MiG 21F Thế hệ thứ hai là các máy bay MiG-21PF (trong đó có PFS và PFM. Thế hệ thứ ba là các máy bay MiG- 21 MF/MT/SMT/ST. Thế hệ thứ tư là các máy bay MiG-21 Bis.

Loại MiG-21 PFM được chính thức được trang bị cho Không quân Liên-xô từ năm 1964, có lắp ra- đa sục sạo mọi thời tiết, vũ khí: trang bị 2 quả tên lửa đầu tự dẫn nhiệt R-3S hoặc 2 quả tên lửa điều khiển bằng ra-đa RS-2US.

Các máy bay MiG-21 PFM đầu tiên được chuyên chở qua cảng Hải Phòng vào cuối năm 1967 và từ giữa năm 1968, MiG-21 PFM (F-94) đã trở thành loại máy bay tiêm kích chủ lực của Không quân Việt Nam.

Trong số các phi công trẻ của Đại đội 5, sau này đã có nhiều người lập được chiến công trong chiến đấu và đã có những người được nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Sau lứa phi công bay đêm đầu tiên của Đại đội 5, lực lượng phi công bay đêm được bổ sung liên tục vào các năm tiếp theo gồm các anh: Vũ Như Ngữ (mà sau này chẳng hiểu vì lí do gì trong các hồ sơ lại ghi là Vũ Văn Ngữ), Phạm Tuân, Trần Văn Năm, Đặng Vân Đình, Nguyễn Ngọc Thiên, Nguyễn Khánh Duy, Nguyễn Đức Chiến, Bùi Doãn Độ, Lưu Văn Hinh, Trần Anh Mỹ... rồi tiếp nữa là Tăng Nguyên Ân, Đoàn Thanh Cần, Nguyễn Văn Dương, Nguyễn Huy Đãng, Nguyễn Văn Đậu, Đinh Trọng Kháng, Ngô Đăng Khoa, Đoàn Duy Lưu, Nguyễn Văn Mịch, Nguyễn Văn Miên, Nguyễn Hồng Nga, Nguyễn Văn Phú, Vương Hữu Quý, Tạ Văn Sửa, Bùi Văn Tập, Bùi Quốc Tế, Nguyễn Khắc Thanh, Cao Văn Tiến, Lại Quốc Việt...

Tất cả đều chuẩn bị đương đầu với lực lượng Không quân Mỹ trong chiến dịch Linebacker-2 với 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không” và sẵn sàng tiếp tục tham gia chiến đấu trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử sau này...

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn