Ký ức từ “địa chỉ đỏ” Đức Hòa
Bà là con gái đầu lòng của liệt sĩ, Bà mẹ Việt Nam anh hùng Dương Thị Huê và người cha là chiến sĩ cách mạng kiên trung Huỳnh Văn Một, vị Tư lệnh phó Quân khu Sài Gòn - Chợ Lớn huyền thoại.
Lật giở lại tập tài liệu cũ, ánh mắt nữ bác sĩ quân y xa xăm khi nhắc về biến cố tại Rừng Thơm, làng Mỹ Hạnh vào năm 1940. Sau khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại, thực dân Pháp đã tiến hành chiến dịch trả thù tàn khốc, đẩy gia đình bà vào thảm cảnh tang thương với 13 người bị bắt và sát hại.
“Chúng gom tất cả 13 người lại, xịt xăng đốt rồi xả súng bắn tàn nhẫn. Ông nội tôi trước khi hy sinh vẫn hiên ngang hô vang: Quân khát máu ăn thịt người, ác độc hơn loài thú dữ”, bà Tâm nghẹn ngào thuật lại lời kể của cha về giây phút cuối cùng của ông nội.
Chứng kiến cảnh tượng kinh hoàng đó, những người thân khác của bà cũng anh dũng hy sinh dưới họng súng quân thù.
“Đau xót nhất là trong số những người bị thảm sát năm ấy, tấm bia đá tại khu mộ gia tộc vẫn còn ghi danh một em bé chỉ vừa tròn một tuổi”, nữ bác sĩ bùi ngùi.
Chính nỗi đau mất đi 13 người thân đã trở thành ngọn lửa thôi thúc cha bà tiếp tục tôi luyện con đường đấu tranh để trở thành vị chỉ huy quân sự dày dạn.

Lớn lên trong gia đình có cha và hai người mẹ đều là những liệt sĩ trung kiên, bác sĩ Tâm sớm nếm trải mùi vị của chiến tranh từ những ngày còn thơ bé.
Bà nhớ về mẹ mình với niềm tự hào xen lẫn xót xa: “Má tôi nhiều lần bị bắt vào tù. Cuộc đời người vợ có chồng từng bị xử án tử hình vắng mặt biết bao gian truân. Ngay sau ngày đình chiến năm 1954, khi còn rất nhỏ, tôi đã từng ở trong nhà tù cùng má”.
Theo những bước thăng trầm của cách mạng miền Nam, gia đình bác sĩ Tâm có rất ít thời gian được ở bên nhau.
“Má chỉ mong hòa bình để được ôm các con trong vòng tay nhưng ước mơ giản dị đó vĩnh viễn không bao giờ có được”, bác sĩ Tâm kể.
Lời thề dưới mái nhà hộ sinh ở tuổi 16
Sáng 4/2/1965, giữa không khí Tết Ất Tỵ, một lễ kết nạp Đoàn đặc biệt diễn ra ngay tại phòng sinh của nhà hộ sinh Huê Cảnh.
Trước đại diện Huyện đoàn Long Đất, cô thiếu nữ Huỳnh Thị Minh Tâm khi ấy mới 15 tuổi đã dõng dạc tuyên thệ: “Suốt đời trung thành với lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đoàn, tôi sẽ tích cực hoàn thành tốt nhiệm vụ của Đoàn giao”.
Lời thề dưới mái nhà hộ sinh năm ấy đã mở đầu cho hành trình dấn thân của một nữ bác sĩ quân y kiên trung.
Hè năm 1965, khi vừa tròn 16 tuổi, bà tạm biệt làng quê Phước Hải để cùng gia đình chuyển vào vùng giải phóng tại huyện căn cứ Tân Biên.

Sống ở xã Hòa Hiệp được vài tháng, chứng kiến những anh chị từ căn cứ ra thăm, khao khát được cống hiến trong cô gái trẻ bùng cháy mãnh liệt.
Bà tha thiết xin cha cho vào rừng công tác nhưng ông ban đầu ngần ngại vì muốn con gái ở lại chăm lo cho các em. Phải mất một tuần kiên trì thuyết phục, cha bà mới đổi ý để con gái gia nhập Bệnh viện Quân Dân Y Tân Biên.
Trở thành học viên trẻ nhất trong lớp y tá 40 người của bác sĩ Trần La Phụng, bà Tâm bắt đầu làm quen với cuộc sống tập thể giữa đại ngàn. Từ một cô gái được gia đình bao bọc, bà tự thấy mình nhỏ bé trước những đồng đội dày dạn kinh nghiệm.
“Mọi người ai cũng tháo vát, nhanh nhẹn, thích nghi cuộc sống chiến trường. Riêng tôi thì rất rụt rè còn chậm chạp nữa”, bà mỉm cười khi nhớ lại sự vụng về thuở đầu.
Thử thách lớn nhất đến với cô y tá trẻ khi lần đầu đối mặt với thương tích chiến trường. Trong một ca mổ áp xe, giây phút nhìn thấy máu mủ thoát ra từ vết thương, bà tái mặt rồi ngất xỉu ngay tại chỗ. Sự cố này từng khiến đồng đội lo ngại bà không thể trụ lại với nghề y.
Tuy nhiên, chính môi trường quân y khốc liệt đã rèn cho bà sự cứng rắn. Nhắc về giai đoạn vượt qua nỗi sợ hãi, nữ bác sĩ tâm sự:
“Tôi cảm phục sự can đảm chịu đựng đau đớn của các anh. Chính điều đó làm cho tôi quên đi nỗi sợ của chính mình”.

Đầu năm 1966, sau khi tốt nghiệp lớp y tá, bà được phân công về công tác tại Trạm y tế xã Hòa Hiệp. Thay vì ngồi đợi bệnh nhân tìm đến, bà chủ động lặn lội đến tận nhà dân để thăm khám và bám sát địa bàn. Sự tận tụy này giúp cô y tá trẻ nhanh chóng nhận được sự tin yêu từ quần chúng.
“Nhờ trải nghiệm thực tế gần dân nên tôi quen dần công tác tiếp cận và vận động nhân dân tham gia các phong trào cách mạng của xã và được bà con tin tưởng”, bà bộc bạch.
Sự thấu hiểu lòng dân chính là “liều thuốc” quý giá nhất mà bà có được trong những ngày đầu bước chân vào sự nghiệp quân y.
“Mở đường máu” giữa gọng kìm tìm diệt
Giai đoạn 1965-1968, chiến trường miền Nam như một “chảo lửa” khổng lồ khi quân viễn chinh Mỹ đổ bộ ồ ạt, triển khai chiến lược “chiến tranh cục bộ” với những gọng kìm tìm diệt tàn khốc.
Giữa tâm bão của cuộc hành quân Junction City càn quét vào chiến khu Dương Minh Châu, cô y tá Minh Tâm khi ấy đang phục vụ tại bệnh viện B9 thuộc Ban Dân y Trung ương Cục miền Nam.

Bác sĩ Tâm nhớ lại những ngày đối mặt với y lệnh dồn dập, chăm sóc các thương binh nặng. Giữa rừng sâu thiếu thốn, từng mảnh băng gạc được quý như máu thịt.
“Những tấm gạc thấm máu mủ, mùi hôi khó chịu, chúng tôi cho tất cả vào thùng thiếc nấu sôi ở nhiệt độ trên 100 độ C tới hai lần để diệt khuẩn rồi mới đem chôn sâu. Còn những cuộn băng dài thì phải giặt đi giặt lại nhiều lần cho trắng tinh, phơi khô, cuộn lại rồi đem hấp nhiệt vô trùng mới dám sử dụng tiếp”, bà kể lại quy trình khử trùng đầy ám ảnh.

Rời “thủ đô kháng chiến”, bà gia nhập lực lượng Thanh niên xung phong, dấn thân vào “Tam giác sắt” - địa bàn bị bom cày đạn xới ngày đêm.
Đến Xuân Mậu Thân 1968, bà vinh dự là một trong những chiến sĩ áo trắng tiên phong đánh thẳng vào sào huyệt kẻ thù. Tại Đội Phẫu thuật Tiền phương 1, giữa tiếng pháo gầm rú của đợt tổng tấn công, bà làm nhiệm vụ tiếp nhận và phân loại thương binh ngay tại hỏa tuyến.
Ngày 12/2/1968 trở thành một ký ức không thể nào quên khi đơn vị bà đóng quân tại Phú Định bị địch phản kích dữ dội. Trực thăng đổ quân ồ ạt, pháo bắn liên hồi đánh thẳng vào đội hình y tế.
Giữa lằn ranh sinh tử, bà cùng 5 chị dân công Bình Chánh phải nằm “chém vè” dưới bờ ruộng có cỏ năn dày đặc để ẩn nấp. Bà bồi hồi nhớ lại khoảnh khắc nghẹt thở khi nghe giặc gọi đúng tên mình từ chiếc ba lô bỏ lại:
“Chúng la to: Tâm, Việt Cộng… thấy rồi, lên đầu hàng đi. Lúc đó, tôi chỉ biết bình tĩnh bám trụ, trong đầu hiện lên tấm gương hy sinh của chị Võ Thị Sáu, anh Nguyễn Văn Trỗi để tự trấn an mình”.

Mãi đến tối mịt, khi tiếng huýt gió quen thuộc của du kích vang lên gọi “Tâm ơi”, bà mới biết mình vừa từ cõi chết trở về sau cuộc “mở đường máu” rút về tuyến sau. Nhưng niềm vui sống sót chẳng tày gang khi bà hay tin bác sĩ Ba Phát - người thầy, người chỉ huy trực tiếp của mình đã hy sinh do trúng đạn từ trọng pháo.
“Tôi đau xót khi nghĩ đến người vợ anh đang mang thai đứa con đầu lòng trên căn cứ R. Chiến tranh là chấp nhận gian khổ, hy sinh, nhưng nỗi đau mất đồng đội làm sao không khỏi thương tiếc”, ánh mắt nữ bác sĩ nhòe đi khi nhắc về người đồng đội cũ.
Thành phố hồi sinh trong ngày toàn thắng
Đúng 14 giờ ngày 30/4/1975, Sài Gòn rung chuyển trong niềm vui vỡ òa của ngày giải phóng. Khắp phố phường, lực lượng cơ sở đồng loạt nổi dậy, phối hợp cùng quân chủ lực chiếm lĩnh các trụ sở chính quyền cũ.
Trong thời khắc lịch sử ấy, sự chủ động của các cán bộ cốt cán cùng quần chúng nhân dân đã bảo vệ nguyên vẹn các cơ sở dịch vụ hạ tầng, giữ cho mạch sống của thành phố đông dân nhất nước không một phút bị ngưng trệ.
Bác sĩ Tâm nhớ mãi hình ảnh cờ cách mạng rực rỡ tung bay trên đỉnh các nhà máy điện, nhà máy nước và các bệnh viện lớn.

Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng đã mở ra một kỷ nguyên mới khi quyền làm chủ thực sự thuộc về nhân dân. Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn - Gia Định chính thức ra đời do danh tướng Trần Văn Trà đứng đầu, cùng các đồng chí Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ lãnh đạo.
Sáng 15/5/1975, tại Dinh Độc Lập, hơn 50.000 đồng bào đã đổ về tham gia lễ hội mừng chiến thắng lịch sử. Trong tiếng nhạc hành khúc oai hùng, Trung đoàn Gia Định cùng các đơn vị quân đội thực hiện cuộc diễu binh trong niềm kiêu hãnh của cả dân tộc.

Ngay sau ngày thành lập, Ủy ban Quân quản cùng nhân dân bắt tay vào xây dựng trật tự mới. Hình ảnh bà con tự động thành lập các Ban tự quản để giữ gìn an ninh, thu gom khí tài do tàn quân vứt bỏ đã minh chứng cho sự đồng lòng tuyệt đối với cách mạng.
Những con đường, ngõ hẻm nhanh chóng được dọn dẹp, đảm bảo an toàn cho các mục tiêu trọng yếu. Chính quyền cách mạng lúc bấy giờ đã nhận được sự ủng hộ nhiệt thành của quần chúng nhân dân trong việc ổn định nhịp sống đô thị và xây dựng lại thành phố.
Từ sau ngày lễ mừng thắng lợi cho đến cuối năm 1975, chính quyền quân quản đã thực hiện một khối lượng công việc khổng lồ để ổn định xã hội. Với tinh thần gắn bó máu thịt với nhân dân, các chiến sĩ cách mạng đã nhanh chóng triển khai cứu đói cho dân nghèo, hỗ trợ bà con hồi hương và khôi phục quyền công dân.
“Sài Gòn bước ra từ khói lửa dù còn ngổn ngang nhưng ngập tràn khí thế xây dựng. Chính sự năng động, sáng tạo của Đảng bộ thành phố và lòng dân đã biến những điều mới mẻ trở thành sức mạnh để hồi sinh thành phố”, bác sĩ Tâm nhận định.
Viết tiếp trang sử vàng giữa thời bình
Cuối năm 1979, theo chính sách đào tạo cán bộ, cô y tá chiến trường năm nào được tổ chức tin tưởng bố trí đi học bác sĩ. Vượt qua những rào cản về kiến thức văn hóa sau nhiều năm cầm súng hơn cầm bút, năm 1980, bà thi đỗ vào Đại học Y Dược TPHCM.
Sài Gòn những năm đầu thập niên 80 còn đầy rẫy khó khăn và sự cấm vận. Tài liệu học tập thiếu thốn, trang thiết bị nghèo nàn. Trong bối cảnh đất nước đối mặt với nạn “chảy máu chất xám”, nhiều thầy cô vẫn chọn ở lại, tận tụy truyền nghề vì lòng yêu nước và tâm huyết với các thế hệ đàn em.

Sau khi hoàn thành sứ mệnh của một bác sĩ quân y và trở về với cuộc sống đời thường, bác sĩ Tâm chưa bao giờ cho phép mình nghỉ ngơi. Với bà, sự tĩnh tại của tuổi già là lúc để suy ngẫm về “món nợ” ân tình với những người đã nuôi dưỡng, bao bọc mình. Từ trong sâu thẳm, bà luôn đau đáu lòng biết ơn vô hạn đối những anh hùng liệt sĩ đã “vì nước quên thân” để viết nên trang sử vàng 30/4/1975.
Quyết tâm thực hiện di huấn của người cha quá cố, bà đã sáng lập và vận động con cháu, bạn bè xây dựng nên Học bổng khuyến học Huỳnh Văn Một.
Năm 2013, Quỹ Hỗ trợ Giáo dục và Tài năng Thể thao học đường TP.HCM chính thức được thành lập, trở thành nhịp cầu nối những ước mơ. Từ năm 2010 đến 2025, hơn 5.000 suất học bổng đã được trao tận tay những học sinh nghèo vượt khó, giúp các em vững bước đến trường.
Ngày nay, khi đã gần bát thập, nhắc lại chuyện xưa, bác sĩ Tâm vẫn vẹn nguyên niềm hạnh phúc khi biết có những người dân xã Hòa Hiệp vẫn còn nhớ cô y tá trẻ “gần dân” của những năm 1965-1966. Với bà, đó là phần thưởng quý giá nhất của cuộc đời người chiến sĩ áo trắng.

Hành trình từ cô bé y tá 15 tuổi nơi chiến khu năm xưa đến người bác sĩ bền bỉ với công tác khuyến học hôm nay là một vòng tròn trọn vẹn của lòng biết ơn.
Khép lại dòng hồi ức, bà lặng nhìn ra cửa sổ, nơi phố phường đang chuyển mình nhộn nhịp và năng động.
“Chúng ta nhớ về lịch sử không phải để giữ mãi nỗi đau mà để biết mình đang tựa vai vào xương máu của cha ông để sống xứng đáng hơn. Đừng bao giờ vô ơn với hòa bình đang có”, bà bộc bạch về điều mình luôn đau đáu.



