Kỷ vật của người anh hùng tại “cánh cửa thép Xuân Lộc”
Trong rất nhiều hiện vật, hình ảnh được trưng bày tại Bảo tàng Quân khu 4 có 2 kỉ vật đã thu hút sự chú ý của đông đảo cán bộ, chiến sỹ và khách tham quan. Đó là chiếc bi đông có khắc chữ “LÁI” và chiếc hộp được làm từ mảnh xác máy bay của tiểu đội phó Phạm Văn Lái thuộc Trung đoàn 266, Sư đoàn 341 được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vì những chiến công xuất sắc tại “cánh cửa thép Xuân Lộc” trong Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Trong rất nhiều hiện vật, hình ảnh được trưng bày tại Bảo tàng Quân khu 4 có 2 kỉ vật đã thu hút sự chú ý của đông đảo cán bộ, chiến sỹ và khách tham quan. Đó là chiếc bi đông có khắc chữ “LÁI” và chiếc hộp được làm từ mảnh xác máy bay của tiểu đội phó Phạm Văn Lái thuộc Trung đoàn 266, Sư đoàn 341 được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vì những chiến công xuất sắc tại “cánh cửa thép Xuân Lộc” trong Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Từ chiến sỹ liên lạc đến người anh hùng trên mặt trận Xuân Lộc
Đồng chí Phạm Văn Lái quê ở thôn Lý Nguyên, xã Quảng Châu, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Năm 16 tuổi, người chị gái bị chết thảm vì bom đạn của giặc Mỹ, nỗi đau mất người thân đã chuyển hóa thành lòng căm thù giặc sục sôi trong tâm can Phạm Văn Lái. Tháng 5/1972, anh viết đơn tình nguyện xin nhập ngũ và được biên chế về Đại đội 3, Tiểu đoàn 7 Công binh Quảng Bình. Tháng 10/1973, Phạm Văn Lái được điều chuyển qua đơn vị bộ binh thuộc Đại đội 9, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 266, Sư đoàn 341 (Đoàn Sông Lam) làm chiến sỹ liên lạc.

Anh hùng Phạm Văn Lái năm 1976.
Tháng 2/1975, Sư đoàn 341 được lệnh hành quân thần tốc từ Lệ Thủy, Quảng Bình vào nhận nhiệm vụ chiến đấu ở mặt trận miền Đông Nam Bộ trong đội hình chiến đấu của Quân đoàn 4. Sư đoàn 341 đã tham gia trận đánh lớn giải phóng thị xã Xuân Lộc, nơi được mệnh danh là “cánh cửa thép” của phòng tuyến bảo vệ Sài Gòn, sào huyệt cuối cùng của ngụy quyền. Trong trận đánh Xuân Lộc lịch sử kéo dài 12 ngày đêm từ ngày 9 đến 21/4/1975, Phạm Văn Lái lúc này là Tiểu đội phó trinh sát đã sát cánh cùng đồng đội trong Đại đội 9 bám sát trận địa chiến đấu, giành giật với quân địch từng ngôi nhà, từng con hẻm, từng góc phố.
Để tránh thương vong, Phạm Văn Lái cùng đồng đội trong đơn vị chia thành từng tổ 3 đến 5 người để yểm trợ nhau chiến đấu. Ngày thứ 2 của trận đánh, Lái cùng 3 đồng đội đã bí mật tập kích vào sau lưng địch, áp sát tấn công. Bị đánh bất ngờ, bọn địch bỏ chạy. Phạm Văn Lái đuổi theo và tiến quá sâu vào chiến hào của địch nên không hay biết trong lúc đó đơn vị anh được lệnh chuyển hướng tiến công.
Phạm Văn Lái chỉ còn một mình với khẩu tiểu liên AK hết đạn. Anh xác định: “Còn một mình cũng đánh, tìm súng địch mà đánh”. May mắn nên tìm được một khẩu AR15 với băng đạn đầy và hai quả lựu đạn của địch. Từ mấy gốc cao su bên cạnh, nhận thấy 3 tên địch mặc áo rằn ri mò lại. Lái im lặng chờ chúng đến thật gần mới tung lựu đạn. Một tên chết tại chỗ, một tên bị thương, tên kia bỏ chạy. Lái cầm khẩu AR15 lia một đường đạn, tên lính bị hạ gục ngay tại chỗ.[1]
Qua một ngày chiến đấu đói khát, mệt mỏi nhưng Phạm Văn Lái chưa vội tìm về đơn vị. Đang củng cố vị trí chiến đấu thì anh gặp 3 du kích của ta, các anh hợp lại thành một tổ chiến đấu. Sáng hôm sau, phát hiện địch tiến thẳng vào trận địa, anh cùng đồng đội dùng súng tiểu liên, súng phun lửa thu được của địch để đánh lại chúng. Trong lúc truy kích, một mảnh đạn M79 cắm phập vào tay trái anh. Đang tự băng bó vết thương thì lại có gần chục tên địch lò dò tiến tới, anh phân công mục tiêu cho 3 du kích, còn anh dùng quả lựu đạn cuối cùng ném vào giữa đám địch. Mấy tên địch ngã nhào, nhưng vết thương ở cánh tay Lái phun ra nhiều máu khiến anh ngất đi. Đúng lúc đó, đơn vị đã đến chi viện kịp thời và đưa anh về đơn vị cứu chữa.
Anh cùng đồng đội đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đánh chiếm và bảo vệ trận địa, trở thành một tấm gương chiến đấu kiên cường, mưu trí, táo bạo. Nhờ chiến công xuất sắc đó, ngày 20/10/1976, khi vừa tròn 24 tuổi, Phạm Văn Lái đã được Chủ tịch nước tuyên dương công trạng và phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Anh cũng là người lính anh hùng đầu tiên của Sư đoàn 341.
Sau trận thắng ở Xuân Lộc, Sư đoàn Sông Lam tiếp tục tiến vào Sài Gòn, Phạm Văn Lái bị thương, phải nằm điều trị nhưng anh đã “trốn” viện đi theo đội hình hành quân. Trước quyết tâm của anh, đơn vị quyết định cho Lái gia nhập đội hình tiến thẳng vào giải phóng Sài Gòn năm 1975. Đầu năm 1977, anh lại xung phong chiến đấu tại biên giới Tây Nam. Năm 1978, với cương vị là trung đội trưởng anh bị thương lần thứ 4 khi chỉ huy đơn vị đánh địch tại mặt trận Hà Tiên (Kiên Giang). Do vết thương quá nặng, anh được đưa về Thành phố Hồ Chí Minh điều trị và về an dưỡng tại thành phố Huế.
Anh hùng giữa đời thường
Trở về địa phương với danh hiệu anh hùng và được hưởng chế độ thương binh hạng 2/4, dù có chế độ của nhà nước nhưng Phạm Văn Lái vẫn tích cực tham gia lao động sản xuất, trở thành tấm gương sáng của một cựu chiến binh, một người lính, một người anh hùng giữa đời thường. Mặc dù mang trong người căn bệnh ung thư dạ dày nhưng anh vẫn cùng vợ con lập trang trại, chăn nuôi bò, trồng lúa và các loại cây lương thực, cây ăn quả. Gia đình anh có hơn 3ha rừng trồng bạch đàn, mấy sào lúa nước và một đàn bò. Từ rừng bạch đàn, rồi chăm chút đàn bò, lứa gà..., cùng với nguồn tiền chế độ của Nhà nước, vợ chồng anh gom góp, tằn tiện để vừa chữa bệnh cho anh, vừa nuôi 5 đứa con ăn học trưởng thành.
Người dân xã Quảng Châu, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình vô cùng khâm phục và luôn ngợi khen Phạm Văn Lái, người con anh hùng của quê hương. Trong mắt dân làng, anh không chỉ là người anh hùng trong chiến đấu mà còn là người anh hùng trong lao động sản xuất, xây dựng kinh tế gia đình, xây dựng quê hương giàu đẹp và cả trong chống chọi, chiến thắng bệnh tật. Bị căn bệnh ung thư dạ dày mấy năm liền, Phạm Văn Lái vừa kiên cường chống chọi với bệnh tật, vừa tích cực tham gia làm kinh tế gia đình, mang lại một cuộc sống đầy đủ cho vợ con. Tuy nhiên, do căn bệnh ưng thư ngày càng trở nặng, Phạm Văn Lái không vượt qua khỏi và đã qua đời vào ngày 20/1/2017, để lại một cuộc đời bình dị, trong sáng của một người lính anh hùng.

Anh hùng Phạm Văn Lái bên những kỉ vật trước khi hiến tặng cho Bảo tàng Quân khu 4 năm 2012.
Kỷ vật còn lại
Anh hùng Phạm Văn Lái, cả một đời quân ngũ gắn bó với biết bao chiến công hiển hách, nhưng điều đáng quý hơn cả là tấm lòng trân trọng, giữ gìn những kỷ vật bé nhỏ, giản dị, chứa đựng biết bao kỷ niệm sâu sắc về những người đồng đội đã cùng anh vào sinh ra tử. Những kỷ vật ấy không chỉ là vật chất vô tri, mà là minh chứng sống động cho tình đồng chí keo sơn, tinh thần chiến đấu quả cảm và những năm tháng gian khổ mà hào hùng của một thời.

Chiếc bi đông và hộp nhôm của anh hùng LLVTND Phạm Văn Lái.
Trong số những kỷ vật vô giá ấy, chiếc bi đông bằng nhôm được cấp phát trước ngày anh lên đường vào chiến trường miền Nam luôn chiếm một vị trí đặc biệt trong trái tim người lính già. Chiếc bi đông đã cùng anh trải qua biết bao trận đánh ác liệt, chứng kiến bao khoảnh khắc sinh tử. Đặc biệt, trong trận đánh tại mặt trận Xuân Lộc, khi một mình anh phải giữ vững trận địa trong đêm tối mịt mù, chính những giọt nước quý giá từ chiếc bi đông đã giúp anh xua tan cơn khát, giữ cho đầu óc tỉnh táo, vững vàng chiến đấu. Anh Lái từng chia sẻ: “Lúc đó, giữa làn mưa bom bão đạn, anh đã nghĩ đến những đồng đội đang chiến đấu ở khắp các mặt trận, nghĩ đến quê hương đang oằn mình dưới gót giày xâm lược và anh biết mình không thể gục ngã. Để thêm động lực và cũng là để lại thông tin nếu có mệnh hệ gì, anh đã dùng dao khắc lên thân chiếc bi đông dòng chữ "LÁI" - tên anh. May mắn thay, anh đã được đồng đội tiếp ứng kịp thời và chiếc bi đông ấy đã theo anh đi suốt cuộc đời binh nghiệp”.
Một kỷ vật khác cũng gắn liền với những kỷ niệm sâu sắc về tình đồng đội, đó là chiếc hộp đựng kem đánh răng được làm từ ống pháo sáng. Chiếc hộp nhỏ bé có kích thước 3x5x16cm, phía trên khắc dòng chữ "Kỉ niệm chiến trường. Ngày 10.4.1975. Xuân Lộc". Anh Lái kể: “Trong thời gian điều trị tại Quân y viện, những người đồng đội thuộc Đại đội 9, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 266 đã tận dụng ống pháo sáng để gò thành những vật dụng sinh hoạt nhỏ bé như hộp đựng bút, hộp đựng kem đánh răng, rồi mang đến tặng anh. Món quà tuy nhỏ bé nhưng chứa đựng biết bao tình cảm chân thành, sự quan tâm, sẻ chia của những người đồng chí, đồng đội đã cùng nhau kề vai sát cánh trong những ngày gian khó”. Anh Lái luôn trân trọng chiếc hộp ấy, coi nó như một biểu tượng của tình đồng đội thiêng liêng, cao quý. Anh thường xuyên sử dụng chiếc hộp đựng kem đánh răng, như một cách để tưởng nhớ về những người bạn, người đồng chí đã cùng anh chia ngọt sẻ bùi, cùng nhau chiến đấu và hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Tháng 8/2012, hưởng ứng Cuộc vận động Hiến tặng kỷ vật kháng chiến, Anh hùng Phạm Văn Lái đã trao tặng kỷ vật “Hộp đựng kem đánh răng” cho Bảo tàng Quân khu 4. Anh tâm sự: “Những kỷ vật này không chỉ là của riêng tôi, mà là của cả một thế hệ những người lính đã chiến đấu và hy sinh vì Tổ quốc. Tôi mong muốn, thông qua những kỷ vật này, thế hệ trẻ hôm nay và mai sau sẽ hiểu hơn về lịch sử hào hùng của dân tộc, về những hy sinh mất mát của cha ông, từ đó bồi đắp lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Chiến sỹ Trung đoàn 266, Sư đoàn 341, Quân khu 4 tham quan hiện vật của Anh hùng Phạm Văn Lái.
Anh hùng Phạm Văn Lái trao tặng kỷ vật cho Bảo tàng Quân khu 4 đã góp phần làm phong phú thêm các phần trưng bày của bảo tàng, đồng thời có ý nghĩa giáo dục sâu sắc đối với thế hệ trẻ. Những kỷ vật của anh và đồng đội sẽ mãi là những chứng nhân lịch sử, là nguồn cảm hứng để thế hệ trẻ noi theo, ra sức học tập, rèn luyện, cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
[1] “Những mẩu chuyện về quân dân Khu Bốn”, ngày xuất bản 14/10/2015, https://www.qdnd.vn/quoc-phong-an-ninh/xay-dung-quan-doi/nhung-mau-chuyen-ve-quan-dan-khu-bon-257862



