Kỷ vật thép và nụ cười tuổi hai mươi của người chiến sĩ giao liên
Trong căn nhà nhỏ rợp bóng cây ăn trái tại địa phương, chúng tôi có dịp được ngồi trò chuyện cùng bác Nguyễn Văn Hùng (sinh năm 1947, cựu chiến binh, nguyên là chiến sĩ giao liên mật tại chiến trường địa phương giai đoạn 1968 - 1975). Ở tuổi gần 80, mái tóc đã bạc phơ và đôi chân không còn nhanh nhẹn do vết thương cũ tái phát mỗi khi trái gió trở trời, nhưng khi nhắc về một "thời hoa lửa", ánh mắt bác lại rực sáng, đưa chúng tôi trở về những năm tháng gian khổ nhưng đầy kiêu hùng.
Năm 1968, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn cam go nhất, chàng thanh niên Nguyễn Văn Hùng khi ấy mới vừa tròn 21 tuổi, gác lại những hoài bão cá nhân để tình nguyện tham gia vào đội giao liên mật của địa phương. Nhiệm vụ của bác là chuyển các bức thư thượng khẩn, tài liệu mật từ căn cứ vùng ven vào nội đô và ngược lại.
Bác Hùng bồi hồi nhớ lại: "Lúc đó làm giao liên là đi vào cửa tử, ranh giới giữa cái sống và cái chết chỉ cách nhau một gang tay. Địch bủa vây, lập đồn bốt khắp nơi. Tụi bác phải đi vào ban đêm, băng qua những đầm lầy, bụi rậm, lội sông mà không được gây ra một tiếng động nhỏ. Tài liệu mật thì ngậm trong miệng hoặc giấu vào đáy chiếc đèn dầu, hễ có động biến là phải hủy ngay lập tức để bảo vệ tổ chức."
Kỷ niệm sâu sắc nhất trong cuộc đời binh nghiệp của bác là chuyến chuyển thư vào mùa khô năm 1972. Đêm đó, trên đường băng qua lộ để giao bức thư thượng khẩn về việc thay đổi địa điểm họp của Trung ương cục, bác lọt vào tầm quét của đèn pha giặc. Tiếng súng nổ vang trời, một mảnh đạn găm thẳng vào đùi trái. Đau đớn và máu chảy nhiều, nhưng ý nghĩ "Bằng mọi giá tài liệu không được rơi vào tay giặc, các đồng chí đang chờ mình" đã tiếp thêm sức mạnh cho người chiến sĩ trẻ. Bác cắn chặt răng, bò lê suốt 3 tiếng đồng hồ qua những bụi gai gai góc, rốt cuộc cũng trao được bức thư tận tay đồng chí trạm trưởng trước khi ngất lịm đi.
Chính chuyến thư đêm ấy đã cứu cả một cuộc họp quan trọng của các cán bộ đầu não địa phương khỏi trận càn quét bất ngờ của địch vào sáng hôm sau.
Khi được hỏi về động lực nào giúp thế hệ các bác lạc quan và dũng cảm đến vậy, bác cười hiền hậu, chỉ tay vào bức ảnh trắng đen cũ kỹ treo trên tường – bức ảnh chụp chung với một cô du kích địa phương: "Thời đó tụi bác nghèo lắm, chỉ có lòng yêu nước và tình đồng chí, tình yêu đôi lứa hòa làm một. Cô gái trong ảnh là cô Năm du kích, người hay tiếp tế cơm nắm cho trạm giao liên của bác. Tụi bác hẹn nhau: 'Hết giặc, mình về cưới nhau'. Lời hẹn ước tuổi đôi mươi giữa rừng bom đạn đó chính là sức mạnh để bác sống sót trở về."
Chiến tranh qua đi, đất nước hòa bình, bác Hùng trở về với cuộc sống đời thường, mang trên mình thương tật hạng 3/4 và nỗi đau mất đi người bạn đời (cô Năm du kích đã hy sinh trong một trận pháo kích năm 1974). Nhưng ở bác chưa bao giờ tắt đi sự lạc quan. Bác vẫn tích cực tham gia các hoạt động tại địa phương, giáo dục con cháu lòng tự hào dân tộc.
Chia tay chúng tôi, bác Hùng nắm chặt tay các bạn đoàn viên thanh niên và nhắn nhủ: "Hòa bình hôm nay đổi bằng máu xương của biết bao nhiêu đồng đội bác. Các cháu được sống trong thời bình, có điều kiện học hành, hãy sống sao cho xứng đáng, hãy cống hiến sức trẻ để xây dựng quê hương mình ngày càng giàu đẹp."
Câu chuyện của bác Nguyễn Văn Hùng tuy không nằm trên những trang sách giáo khoa lớn, nhưng chính là một mảnh ghép sống động, một "câu chuyện thời hoa lửa" thầm lặng mà vĩ đại, nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay về giá trị của hai chữ: Hòa Bình.


