Lá Cờ Trên Đồi Sim
Giữa những ngày chiến sự khốc liệt ở Quảng Trị, một người lính trẻ đã giữ lá cờ đơn vị trên ngọn đồi đầy bom đạn. Khi trận đánh kết thúc, lá cờ vẫn tung bay, nhưng người giữ cờ thì không còn trở về nữa.
Mùa hè năm 1972, chiến trường Quảng Trị nóng bỏng như một chảo lửa. Đồi sim phía tây thị xã trở thành điểm giành giật quyết liệt giữa hai bên. Đất đá bị bom cày xới đến mức cây sim tím cũng cháy đen từng mảng. Ông Bùi Xuân Phúc lúc ấy là chiến sĩ thông tin, chuyên kéo dây liên lạc giữa các đơn vị. Trong đại đội có Nguyễn Quốc Dũng, chàng trai quê Hà Tĩnh mới mười chín tuổi, được giao nhiệm vụ giữ lá cờ của đơn vị. Dũng rất trẻ, khuôn mặt lúc nào cũng hiền lành. Trong ba lô anh luôn giữ một cuốn sổ nhỏ ghi tên từng đồng đội và lời hẹn ngày chiến thắng sẽ cùng nhau ra bờ sông Thạch Hãn chụp một tấm ảnh. Những ngày chiến đấu trên đồi sim vô cùng khốc liệt. Ban ngày pháo dội xuống liên tục, ban đêm bộ đội phải đào thêm công sự giữa đất đá còn nóng khét mùi thuốc súng. Một buổi chiều, trận phản kích lớn nổ ra. Khói bom phủ kín cả sườn đồi. Đường dây thông tin bị đứt liên tục, ông Phúc phải bò qua từng hố bom để nối lại. Giữa tiếng đạn, ông vẫn nhìn thấy Dũng ôm chặt lá cờ đơn vị đứng ở miệng hào. Lá cờ đỏ lấm bụi đất nhưng vẫn nổi bật giữa màu trời xám đục. Ông Phúc hét lớn: — “Dũng! Lui xuống đi!” Nhưng Dũng chỉ lắc đầu: — “Cờ còn thì anh em còn biết vị trí!” Đợt pháo tiếp theo trút xuống dữ dội hơn. Đất đá tung mù trời. Khi tiếng nổ ngớt dần, ông Phúc bò lên phía miệng hào thì thấy cây cờ vẫn cắm trên đỉnh đồi. Còn Dũng nằm ngay dưới chân cờ, đôi tay vẫn giữ chặt cán gỗ. Đêm hôm ấy, đồng đội thay nhau đứng gác bên thi thể anh cho đến sáng. Không ai nói với ai câu nào. Chỉ có gió thổi qua đồi sim cháy sém và lá cờ vẫn phần phật trong bóng tối. Sau chiến tranh, ông Phúc trở lại Quảng Trị. Đồi sim năm xưa đã phủ xanh trở lại, hoa tím nở đầy triền dốc. Ông mang theo cuốn sổ nhỏ nhặt được trong ba lô của Dũng ngày ấy. Trang cuối cùng có dòng chữ viết chưa trọn: “Mai hòa bình, nhất định phải…” Câu viết dang dở ấy theo ông suốt hơn bốn mươi năm. Và mỗi lần nhìn lá cờ bay trong gió, ông lại nhớ đến chàng trai tuổi mười chín đã nằm lại trên ngọn đồi sim mùa lửa đạn năm nào.



