Lá thư chưa kịp gửi
Một buổi tối yên tĩnh hiếm hoi ở sân bay, Nguyễn Văn Bảy ngồi bên chiếc bàn nhỏ trong phòng trực ban. Ngoài kia, những người thợ máy vẫn đang làm việc. Ánh đèn sân bay hắt qua cửa sổ. Ông lấy một tờ giấy, đặt lên bàn và bắt đầu viết. Lá thư gửi về quê. Ông viết về những ngày ở đơn vị, về đồng đội, về những chuyến bay và cả những điều rất bình thường mà người ở quê luôn muốn biết. “Ở đây anh em vẫn khỏe…” Ông dừng bút một lúc. Rồi viết tiếp.
Một buổi tối yên tĩnh hiếm hoi ở sân bay, Nguyễn Văn Bảy ngồi bên chiếc bàn nhỏ trong phòng trực ban.
Ngoài kia, những người thợ máy vẫn đang làm việc.
Ánh đèn sân bay hắt qua cửa sổ.
Ông lấy một tờ giấy, đặt lên bàn và bắt đầu viết.
Lá thư gửi về quê.
Ông viết về những ngày ở đơn vị, về đồng đội, về những chuyến bay và cả những điều rất bình thường mà người ở quê luôn muốn biết.
“Ở đây anh em vẫn khỏe…”
Ông dừng bút một lúc.
Rồi viết tiếp.
“Con vẫn nhớ nhà…”
Đến đó, ông ngẩng lên nhìn ra ngoài cửa.
Tiếng động cơ từ xa vọng lại.
Ông mỉm cười.
Có lẽ ông nhớ đến những con sông, cánh đồng và những người thân đang ở rất xa.
Tôi được một cựu đồng đội kể rằng Nguyễn Văn Bảy rất quý những lá thư từ quê gửi ra. Ông thường giữ chúng cẩn thận, đọc đi đọc lại khi có thời gian.
Vì vậy, mỗi khi viết thư về, ông cũng cố viết thật chân thành.
Không kể nhiều về chiến đấu.
Không kể những chuyện nguy hiểm.
Ông sợ người ở nhà lo.
Ông viết về những điều giản dị hơn:
“Anh em trong đơn vị thương nhau lắm…”
“Các chú thợ máy rất tận tình…”
“Con vẫn ăn uống đầy đủ…”
Dòng cuối cùng chưa viết xong thì tiếng còi báo động vang lên.
Người trực ban chạy vào:
“Anh Bảy! Có lệnh chuẩn bị xuất kích!”
Nguyễn Văn Bảy lập tức đứng dậy.
Ông gấp tờ giấy lại.
Chưa kịp viết xong.
Một đồng đội hỏi:
“Thư gửi về nhà à?”
Ông gật đầu:
“Ừ. Về sẽ viết tiếp.”
Tờ giấy được đặt vào ngăn bàn.
Rồi ông chạy ra sân bay.
Những chiếc MiG-17 lần lượt khởi động.
Tiếng động cơ vang lên, át cả mọi âm thanh khác.
Chuyến bay hôm ấy kéo dài khá lâu.
Khi Nguyễn Văn Bảy trở về, trời đã tối.
Ông bước vào phòng trực ban, người vẫn còn mệt sau chuyến bay.
Một đồng đội hỏi:
“Có viết tiếp thư không?”
Ông cười:
“Mai viết.”
Nhưng công việc lại cuốn đi.
Rồi những chuyến bay khác nối tiếp.
Tờ giấy vẫn nằm trong ngăn bàn.
Một nửa lá thư đã viết.
Nửa còn lại vẫn trắng.
Tôi được nghe kể rằng có những người lính khi ấy thường để thư dở dang như vậy. Không phải vì họ không có điều muốn nói, mà vì chiến tranh luôn khiến thời gian của họ trở nên bất định.
Hôm nay còn có thể viết.
Ngày mai có thể lại phải cất cánh.
Một buổi tối khác, người trực ban mở ngăn bàn để lấy tài liệu.
Anh nhìn thấy tờ giấy.
Anh nhận ra nét chữ.
Lá thư vẫn chưa được gửi.
Anh khép ngăn kéo lại.
Không ai động đến nữa.
Nhiều năm sau, khi sưu tầm những ký ức về thế hệ phi công thời ấy, tôi được nghe một cựu chiến sĩ kể:
“Có những lá thư chúng tôi không bao giờ biết đoạn cuối viết gì. Nhưng chúng tôi hiểu người viết muốn nói gì.”
Có lẽ đoạn cuối sẽ là một lời hỏi thăm.
Có thể là:
“Cha mẹ giữ gìn sức khỏe.”
Hoặc:
“Con mong ngày đất nước hòa bình.”
Nhưng những dòng ấy mãi mãi chỉ nằm trong trí tưởng tượng của người ở lại.
Bởi đôi khi, chiến tranh không chỉ lấy đi một người, mà còn lấy đi những lời chưa kịp nói, những bức thư chưa kịp gửi và những lời hẹn chưa kịp thực hiện.
Tờ giấy ấy có thể đã cũ từ lâu.
Nhưng câu chuyện về nó vẫn khiến tôi xúc động mỗi khi nhớ lại.
Một người lính trẻ ngồi bên ngọn đèn, viết vài dòng cho quê mẹ.
Rồi tiếng còi vang lên.
Anh gấp lá thư lại và chạy ra sân bay.
Không ai biết đó có thể là lần cuối cùng anh đặt bút.
Và chính vì thế, một lá thư chưa kịp gửi đôi khi lại trở thành một trong những kỷ vật chân thành nhất của một thế hệ đã sống, chiến đấu và hy sinh cho ngày đất nước được bình yên.


