Lá thư gửi lại bên dòng Sê San
Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giữa bom đạn ác liệt của chiến trường Tây Nguyên, tình đồng đội đã trở thành sức mạnh giúp những người lính vượt qua mọi gian khổ. Câu chuyện về một lá thư chưa kịp gửi của người đồng đội đã hy sinh là ký ức không thể nào quên đối với người cựu chiến binh năm xưa.
Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua kể từ ngày đất nước thống nhất, nhưng mỗi khi nhắc đến chiến trường Tây Nguyên, tôi vẫn nhớ như in hình ảnh người đồng đội thân thiết của mình – anh Nguyễn Văn Bình.
Đó là mùa khô năm 1972. Đơn vị chúng tôi đóng quân gần dòng sông Sê San để chuẩn bị cho một đợt tiến công lớn. Những ngày ấy vô cùng gian khổ. Ban ngày phải đào công sự, hành quân và vận chuyển lương thực, ban đêm lại cảnh giác trước các cuộc càn quét và pháo kích của địch.
Anh Bình hơn tôi hai tuổi, quê ở Nam Định. Anh hiền lành, ít nói nhưng luôn quan tâm đến đồng đội. Trong ba lô của anh lúc nào cũng có một cuốn sổ nhỏ và vài lá thư viết dở gửi về cho mẹ.
Một buổi tối, sau khi hoàn thành nhiệm vụ, anh Bình ngồi dưới ánh đèn dầu leo lét trong căn hầm dã chiến, cặm cụi viết thư. Anh nói với tôi:
“Hùng à, hòa bình rồi nhất định tôi sẽ đưa mẹ vào Tây Nguyên thăm nơi mình từng chiến đấu.”
Tôi cười và bảo:
“Nhất định sẽ có ngày đó thôi.”
Nhưng chúng tôi không ngờ rằng đó lại là cuộc trò chuyện cuối cùng.
Rạng sáng hôm sau, đơn vị nhận lệnh cơ động khẩn cấp. Khi đang hành quân qua một khu vực rừng thưa, chúng tôi bất ngờ bị địch phát hiện và pháo kích dữ dội. Đất đá tung mù mịt. Tiếng nổ vang lên liên tiếp.
Trong lúc tìm cách đưa một chiến sĩ bị thương vào nơi an toàn, anh Bình đã bị một mảnh pháo găm trúng. Chúng tôi lập tức băng bó và đưa anh về tuyến sau, nhưng vết thương quá nặng.
Trước khi nhắm mắt, anh nắm chặt tay tôi và thì thào:
“Nếu còn sống trở về, cậu giúp tôi gửi lá thư này cho mẹ nhé...”
Nói rồi anh trao cho tôi lá thư vẫn còn dang dở trong túi áo.
Ngày anh hy sinh, cả đơn vị lặng người. Chúng tôi chôn cất anh dưới tán rừng già, bên một triền đồi nhìn ra dòng Sê San. Không ai cầm được nước mắt.
Sau ngày đất nước thống nhất, tôi trở về quê và tìm đến gia đình anh Bình. Khi trao tận tay người mẹ già lá thư năm ấy, bà run run mở từng nếp giấy đã úa màu thời gian.
Trong thư, anh viết:
“Mẹ kính yêu! Con vẫn khỏe. Mẹ đừng lo cho con. Ngày đất nước hòa bình, con sẽ trở về phụng dưỡng mẹ và kể cho mẹ nghe về những người đồng đội tuyệt vời của con...”
Đọc đến đó, người mẹ òa khóc. Còn tôi đứng lặng, không nói được lời nào.
Hôm ấy, tôi thắp cho anh Bình một nén hương và hứa rằng sẽ kể lại câu chuyện của anh cho thế hệ mai sau. Bởi sự hy sinh của những người lính không chỉ được ghi trong lịch sử mà còn sống mãi trong trái tim của những người ở lại.
Ngày nay, mỗi lần nhìn thấy những con đường rộng mở, những ngôi trường rộn rã tiếng cười trẻ thơ hay những mùa cà phê bạt ngàn trên đất Tây Nguyên, tôi lại nhớ đến anh Bình và biết bao người đồng đội đã nằm lại tuổi hai mươi để đất nước có được hòa bình.
Họ ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, nhưng lý tưởng và tinh thần yêu nước của họ sẽ mãi là ngọn lửa soi đường cho các thế hệ hôm nay và mai sau.



