La Văn Cầu (5)
La Văn Cầu
Huyền thoại sống Đông Khê: Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh
Lịch sử vĩ đại của dân tộc Việt Nam trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước không chỉ là những mốc son được in nghiêng trang trọng trên các trang sách giáo khoa, mà đó là một pho sử sống được viết lên bằng máu, nước mắt, bằng cả thanh xuân và những phần thân thể gửi lại chiến trường của lớp lớp thế hệ cha anh đi trước. Đối với những người trẻ sinh ra trong thời bình, ranh giới giữa hiện thực và quá khứ đôi khi bị làm mờ bởi lớp bụi thời gian. Thế nhưng, khi tham gia phong trào tìm hiểu về các "Nhân chứng lịch sử" và có cơ hội được lắng nghe trực tiếp câu chuyện từ Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân La Văn Cầu, tôi mới thực sự chạm tay vào bề dày bi tráng của lịch sử nước nhà, thấu hiểu đến tận cùng sức nặng ngàn cân của hai chữ "hòa bình". Dưới góc nhìn của một sinh viên mang trên mình màu áo blouse trắng, từng ngày miệt mài trong giảng đường với những kiến thức về giải phẫu sinh lý và trân quý từng nhịp đập của sự sống, câu chuyện về người chiến sĩ dũng cảm nhờ đồng đội chặt đứt cánh tay của mình để tiếp tục chiến đấu đã thực sự tạo ra một cơn chấn động mãnh liệt trong tâm thức của tôi.
Dù hiện tại đã bước sang tuổi cửu tuần, mái tóc bạc trắng như cước và trên người mang nhiều vết thương vật lý từ những năm tháng khói lửa, nhưng tác phong của Đại tá La Văn Cầu vẫn vô cùng dứt khoát, ánh mắt vẫn sáng ngời khí chất kiên trung của một người lính Cụ Hồ. Qua lời kể chậm rãi nhưng rền vang hào khí của ông, cả một thời kỳ lịch sử bi tráng như được tái hiện sống động. Ông sinh năm 1932, là người con ưu tú của dân tộc Tày, sinh ra tại vùng quê cách mạng Phong Nậm, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Năm 1948, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của non sông, chàng thanh niên trẻ gia nhập bộ đội chủ lực. Khắc sâu nhất trong tâm trí tôi trong suốt buổi trò chuyện là khoảnh khắc ông bồi hồi nhớ lại trận đánh đồn Đông Khê diễn ra vào giữa tháng 9 năm 1950 – trận đánh then chốt mang tính bước ngoặt, mở màn cho chiến thắng của Chiến dịch Biên giới Thu Đông lịch sử. Khi đó, La Văn Cầu mới chỉ là một chàng thanh niên 18 tuổi, mang trong mình bầu máu nóng của tuổi trẻ, được cấp trên tin tưởng giao nhiệm vụ làm Tiểu đội phó, chỉ huy tổ bộc phá nhận trọng trách tiêu diệt lô cốt mẹ - mắt xích tử huyệt của quân địch.
Ông kể, đêm 17 tháng 9 năm 1950, màn sương mù dày đặc bao trùm cả núi rừng Đông Khê, hỏa lực của địch từ trong các lỗ châu mai bắn ra xối xả, đan thành một tấm lưới lửa nhằm bẻ gãy mũi tiến công của quân ta. Trận chiến diễn ra vô cùng ác liệt, nhiều đồng đội đã ngã xuống. Giữa vòng vây hiểm nguy và làn đạn rát mặt, La Văn Cầu bị trúng đạn. Viên đạn xé toạc một phần má phải và bắn nát cánh tay phải của ông. Cơn đau thấu xương tủy ập đến, máu tuôn xối xả khiến người chiến sĩ trẻ ngất lịm đi, quả bộc phá cũng văng mất. Khi tỉnh lại, ranh giới giữa sự sống và cái chết chỉ mỏng manh như một sợi chỉ. Là một sinh viên y khoa am hiểu về hệ tuần hoàn và thần kinh, tôi thấu hiểu tận cùng sự chấn động kinh hoàng mà cơ thể con người phải gánh chịu trong khoảnh khắc ấy. Thế nhưng, sức mạnh ý chí của người lính Cách mạng đã vượt lên trên mọi giới hạn của sinh học. Cánh tay phải dập nát, lủng lẳng giờ đây bỗng trở thành chướng ngại vật cực kỳ vướng víu, cản trở bước tiến ôm bộc phá. Không một chút đắn đo, không một lời than vãn, chàng thanh niên ấy đã đưa ra một quyết định làm chấn động lịch sử: yêu cầu đồng đội là chiến sĩ Nông Văn Thất chặt đứt cánh tay bị thương của chính mình. Ông kể lại với nụ cười hiền hậu nhưng ánh mắt rực lửa tự hào: "Lúc đó tôi không thấy đau, cũng không màng đến cái chết, trong đầu chỉ xẹt qua một suy nghĩ duy nhất là quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Tôi bảo đồng chí Thất: 'Cậu chặt hộ cánh tay cho mình khỏi vướng để mình tiến lên'. Đồng chí ấy chần chừ rơi nước mắt, nhưng trước thái độ kiên quyết của tôi, anh ấy đã gạt nước mắt làm theo". Ngay sau nhát chém ấy, nén lại nỗi đau đớn tột cùng thể xác, La Văn Cầu dùng cánh tay trái còn lại ôm chặt quả bộc phá nặng 12kg trườn lên phía trước, đẩy mạnh vào lỗ châu mai và đánh sập hoàn toàn lô cốt địch, xé toang hàng rào phòng ngự để lực lượng xung kích của ta ào lên giành thắng lợi giòn giã.
Hành động phi thường ấy không chỉ mang lại chiến thắng cho trận Đông Khê mà còn trở thành biểu tượng rực rỡ của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, giúp ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vào năm 1951, khi mới 19 tuổi. Chiến tranh lùi xa, người anh hùng để lại một phần máu xương nơi đại ngàn Trường Sơn ngày ấy đã trở về với cuộc sống đời thường tại thủ đô Hà Nội. Điều khiến thế hệ trẻ chúng tôi càng thêm kính trọng và cúi đầu nể phục không chỉ là sự dũng cảm vô song của ông trong quá khứ, mà còn là nếp sống vô cùng giản dị, khiêm nhường ở hiện tại. Mang trên mình thương tật nặng nề, chỉ còn lại một cánh tay trái, nhưng Đại tá La Văn Cầu luôn là minh chứng sống động nhất cho lời Bác Hồ dạy: "Thương binh tàn nhưng không phế". Hàng ngày, ông vẫn dùng cánh tay duy nhất ấy để quét dọn ngõ xóm, miệt mài tham gia công tác xã hội tại địa phương và không ngừng đi khắp nơi để truyền lửa truyền thống yêu nước cho thanh niên, học sinh. Dù là một tượng đài vĩ đại giữa đời thường, ông luôn từ chối mọi đặc quyền ngợi ca, ông luôn nói rằng bản thân mình còn được sống đến ngày hôm nay đã là một đặc ân quá lớn lao so với biết bao đồng đội đã mãi mãi nằm lại tuổi đôi mươi ở lưng chừng đèo, dưới vực sâu, như tấm gương hy sinh lấy thân mình lấp lỗ châu mai của Đại đội trưởng Trần Cừ hay người tân binh 18 tuổi Lý Văn Mưu trong cùng trận đánh năm xưa. Vinh quang này, theo ông, là của tập thể, của cả một dân tộc anh hùng chứ không thuộc về bất kỳ cá nhân nào.
Rời khỏi buổi gặp gỡ, hình ảnh người cựu chiến binh già với ống tay áo cộc bên phải tung bay trong gió cứ in đậm sâu sắc trong tâm trí tôi, trở thành một lời nhắc nhở đanh thép về chân lý vĩnh cửu: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do". Là một người trẻ được sinh ra, lớn lên và thụ hưởng nền giáo dục dưới bầu trời hòa bình – bầu trời được dệt nên bằng thanh xuân và vô vàn xương máu của các thế hệ cha anh, tôi tự dặn lòng mình không bao giờ được phép vô ơn hay lãng quên quá khứ. Những khó khăn, áp lực trong quá trình học tập thực chất vô cùng nhỏ bé và không đáng kể so với những gì thế hệ đi trước đã phải oằn mình gánh vác. Tấm gương dũng cảm vô song và lối sống cao đẹp, tận hiến của Anh hùng La Văn Cầu sẽ luôn là ngọn đuốc sáng rực rỡ soi đường. Tôi xin hứa sẽ không ngừng trau dồi y đức, ra sức rèn đức luyện tài, mang tri thức, tình yêu thương và đôi bàn tay lành lặn của mình để cống hiến, cứu người, góp phần nhỏ bé vào công cuộc kiến thiết, bảo vệ và xây dựng một Tổ quốc Việt Nam ngày càng vững bước, vươn mình giàu mạnh trên trường quốc tế.



