LÀM NGƯỜI LÀ KHÓ Đoàn Duy Thành LỜI NÓI ĐẦU Sinh ra và lớn lên trong một gia đình Nho học ở một làng quê giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ, tham gia cách mạng từ thuở niên thiếu và đã trở thành một cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước, ông Đoàn Duy Thành còn là tác giả của nhiều cuốn sách, đặc biệt là những sách viết về làm kinh tế và quản lí kinh tế trong thời kì đổi mới đã được phổ biến rộng rãi, hoặc sách dùng giáo dưỡng thế hệ trẻ.
Tiếp theo một số tác phẩm đã có dịp ra mắt bạn đọc trước đây, lần này xin được trân trọng giới thiệu cuốn Làm người là khó của tác giả.
Tập hồi kí này không chỉ là những hồi tưởng về cuộc đời mà qua đó, giúp bạn đọc hình dung một các sinh động cả một bối cảnh xã hội của đất nước cũng như Thành phố Hải Phòng qua những chặng đường lịch sử đầy biến động. Với một trí nhớ đáng ngạc nhiên, tác giả nhắc lại những sự kiện gắn bó với tên đất, tên người, những số liệu đi cùng năm tháng mà chắc chắn sẽ rất có ích cho nhiều thế hệ. Từ những ngày trước cách mạng, đến không khí hào hùng của Cách mạng Tháng Tám, nạn đói khủng khiếp năm 1945 do phát xít Nhật gây ra, ngày Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ II, công cuộc cải cách ruộng đất, tiếp quản Hải Phồng, cuộc chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ, quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội những ngày đầu thời kì đổi mới ở Hải Phòng, việc khoán sản phẩm trong nông nghiệp v.v...
Đằng sau và bên trong của những sự kiện, chính là chân dung con người, đó là hình ảnh tác giả cùng đồng chí đồng bào, xuyên suốt mấy trăm trang viết. Là một nhà chính trị kinh tế, song tập hồi kí có sức lôi cuốn qua lối viết giàu tâm huyết, có cá tính, chân thực, thẳng thắn, nhất quán từ khi còn thuở niên thiếu giác ngộ cách mạng, vượt qua khó khăn thử thách tù đày, tưởng như không thể trụ vững được, trở thành nhà lãnh đạo cao nhất của Thành phố Hải Phòng, rồi một vị Bộ trưởng, một Phó Thủ tướng, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Là người có vốn Nho học sâu rộng, thấm nhuần đạo lí truyền thống dân tộc và tinh thần cách mạng, ông lại sớm có tư tưởng cách tân, một tầm nhìn rộng rãi và hành động mạnh mẽ.
Dường như ông làm việc không chỉ biết chấp hành, mà luôn khai phá, năng động sáng tạo. Bởi thế, vinh quang cũng có mà không ít gian truân, ở cương vị của ông, có không ít việc đã làm được, đã để lại tình cảm, ấn tượng tốt đẹp trong lòng đồng bào; có một số việc còn dang dở mà lẽ ra có thể rút ngắn thời gian để đi xa hơn, nhanh hơn, nếu như ... Chẳng hạn, nếu như cộng sự của ông cũng nhận thức như thế, nếu như ý tưởng của ông được thực thi, nếu như không có những rào cản, trước hết không phải là rào cản của điều kiện bên ngoài, mà là rào cản trong tâm thức con người. Hơn nửa thế kỷ cống hiến cũng là quá đủ đối với đóng góp một đời người, nhưng ở đây trước hết không chỉ là con số, mà là hệ lụy của những con số ấy, là sức mạnh của trí tuệ, hoài bão, là những trăn trở, tìm tòi, tuyên chiến với dốt nát, giả trá, thủ cựu, biết chấp nhận và chối từ.
Cũng là sự trùng hợp giữa các quãng thời gian đầy ắp những sự kiện lịch sử này với cuộc đời của tác giả. Thế hệ đã từng sống bấy giờ, mặc dù đã chứng kiến, chiêm nghiệm qua số phận bản thân, vẫn tìm thấy ở đây thêm lời giải đáp, có dịp nhìn nhận điềm tĩnh hơn, công tâm hơn trong cách xem xét, đánh giá đúng đắn từng vấn đề. Thế hệ sau có thể xem đâỵ là cuốn sách đáng tin cậy để tìm hiểu về một thời hào hùng và cũng lắm thăng trầm của Thành phố Hải Phòng cùng đất nước.
Trong tình hình đất nước đang trên đà đổi mới và hội nhập, thông thoáng hơn về cách nghĩ, cách làm, việc ra mắt cuốn sách trên chắc sẽ đem lại điều bổ ích và cần thiết, ôn cũ biết mới, nhắc nhở đạo làm người.
Tôi xin trân trọng giới thiệu cuốn sách “Làm người là khó” với rộng rãi bạn đọc của Thành phố Hải Phòng cùng cả nước.
PHẠM NGÀ
Giám đốc Nhà xuất bản Hải Phòng Ảnh tác giả: Nguyên phó thủ tướng ĐOÀN DUY THÀNH | |
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Ba, 2022, 11:05:06 pm gửi bởi Giangtvx » | Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Làm người là khó« Trả lời #1 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2022, 03:43:02 pm » | Chương 1 THỜI NIÊN THIẾU Tôi sinh ngày 15-9-1929 ở thôn Tường Vu, xã Cộng Hòa, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.
Giống như bao làng quê thuần nông của đồng bằng Bắc bộ, làng tôi có lũy tre xanh bao bọc, nổi lên tựa một hòn đảo nhỏ giữa biển lúa mênh mông. Làng tôi không lớn, nhưng tất cả, tất cả đều gắn bó với tôi rất thân thiết và sâu sắc trong thời thơ ấu và niên thiếu. Tôi thuộc từng nét mặt người, từng mái nhà, xóm ngõ, từng gốc cây, bờ ao, giếng nước... Sau này dù đi khắp nơi, mảnh đất chôn rau cắt rốn vẫn luôn hiện lên rõ nét trong tâm trí tôi với một nỗi nhớ da diết, cháy bỏng. Có một cây gạo cổ thụ cao vút, vượt khỏi những vồng tre giữa làng, mỗi độ xuân về nó đơm đầy hoa đỏ, rực rỡ giữa trời xanh.
Cây gạo ấy đã như một biểu tượng của làng tôi. Những khi đi xa về gần, cứ chợt thấy bóng dáng cây gạo từ xa, lòng tôi lại bồi hồi xao xuyến. Kia, làng tôi kia rồi...
Dưới lũy tre xanh, con đường làng hình thành tự nhiên từ những lối mòn ngoằn ngoèo, uốn lượn Khi trời mưa, đường trơn như đổ mỡ, lầy lội, bùn đất ngập ngang mắt cá chân. Một ngôi chùa nhỏ mái ngói rêu phong nằm cạnh đầu làng. Kỳ tuần rằm lễ tiết nào, mẹ tôi cũng đưa tôi lên chùa lễ Phật. Nhờ năng đi lễ mà từ bé tí tôi đã thuộc hết từng cầu đối chữ nho ở đó.
Dân làng tôi quanh năm đầu tắt mặt tối, chân lấm tay bùn nhưng vẫn thiếu đói, rau cháo đắp đổi. Trừ một vài nhà thuộc diện địa chủ, phú nông, có nhà ngói cây mít, còn hầu hết đều mái tranh vách đất, dột nát, tồi tàn. Tuy thế trong cái cộng đồng nhỏ bé dường như yên bình này, hàng ngày, hàng giờ vẫn diễn ra bao nhiêu chuyện, bao buồn vui theo dòng đời của một xã hội thu nhỏ, mà tôi sẽ kể sau.
Làng Tường Vu nối liền với làng Lai Khê, có đường quốc lộ số 5, có đường sắt Hà Nội - Hải Phòng đi qua, có cầu và ga Lai Khê. Kế tiếp là làng Thanh Liên, có trường tiểu học Pháp-việt (Ecole Primaire) mở từ những năm 1924, trước cả trường của huyện 4 năm. Ba làng chúng tôi hợp thành một xã, ngày nay gọi là xã Cộng Hòa. Do vị trí địa lý thuận lợi như thế nên quê tôi dù nghèo vẫn phảng phát chút văn minh đô thị, văn minh công nghiệp, cũng như sự nhậy cảm chính trị với tình hình thời cuộc, tạo điều kiện cho dân làng sớm tiếp cận các phong trào cách mạng trong từng thời kỳ lịch sử đất nước.
Trường tiểu học nơi tôi vỡ lòng có 2 cấp. Mỗi cấp học trong 3 năm. Học xong 6 năm, nếu thi đỗ và đủ 16 tuổi sẽ được bổ nhiệm làm hương sư ở các làng khác, trình độ gọi vắn tắt là đã có bằng “Séc”1 sau này ta dịch là “bằng sơ học bổ túc”, qui sang hệ giáo dục của ta tương đương lớp 4. Tuy nhiên sức học thực tế của những người có bằng “Séc” khá hơn lớp 4 hiện nay rất nhiều vì được học kỹ, học sâu, cả toán lẫn Pháp văn. Toán đã học đại số, ngoại ngữ thì những học sinh giỏi có thể giao tiếp, viết văn bằng tiếng Pháp được.
------------------- 1. Certificat d'étude primaire complémentaire | |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Làm người là khó« Trả lời #2 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2022, 03:53:52 pm » |
Cha mẹ tôi sinh cả thảy 10 lần, nhưng 6 người bị chết ngay từ nhỏ, còn lại hai trai, hai gái. Về kinh tế, gia đình tôi thuộc diện trung lưu. Xưa ông nội tôi dạy học ở nhà ông ngoại, dạy 2 con trai của gia đình ngoại học chữ Hán. Ông bà ngoại tôi cảm kích gả mẹ tôi cho con giai thầy đồ tức là bố tôi. Ông bà ngoại còn cho bố mẹ tôi 3 mẫu ruộng (mỗi mẫu là 3.600 m2) làm vốn. Khi tôi còn nhỏ, gia đình có điều kiện cho tôi đi học cùng với người anh ruột, hơn tôi 3 tuổi, nhưng cùng học một lớp. Sau 3 năm học, hai anh em tôi đều đỗ lấy bằng “Sơ học yếu lược”. Thi chuyển cấp hai anh em cũng được lên. Nhưng mới học nửa học kỳ, gia đình tôi gặp tai biến: Bố tôi thua bạc, bị gia đình Trưởng Cơ (Cơ Ký), một thương gia kiêm địa chủ ở thành phố Hải Dương lừa, chiếm mất 3 mẫu ruộng. Kinh tế bị sa sút, bố mẹ tôi buộc phải chuyển chúng tôi về học Hán tự (chữ Nho) để giúp thêm gia đình cày cấy, chăn nuôi, khắc phục hoàn cảnh khó khăn.
Hàng ngày, buổi sáng chúng tôi học chữ Nho, chiều giúp đỡ gia đình chăn trâu, nuôi lợn, nấu cơm, tát nước và học cày bừa, cấy gặt. Ngày còn theo học tại trường, tôi học khá, lại chăm chỉ, lễ phép, quý mến bè bạn, học bạ luôn được phê: “hạnh kiểm tốt và rất tốt; thông minh và rất thông minh1, bởi vậy các thầy giáo đều tiếc cho tôi.
Các thầy khuyên tôi mượn sách vở của người cậu họ và cháu họ để tiếp tục học thêm. Một vài tuần thầy giáo Nhất (thầy Phong - hiệu trưởng), và thầy giáo Nhì (Nguyễn Đình Tụng) cho phép tôi đến nhà để kèm cặp. Đặc biệt thầy giáo Tụng rất yêu quý tôi. Chính thầy giúp đỡ tôi giải 565 bài tính đố trong tập toán luyện thi sơ học yếu lược mà thầy là tác giả. Sách đã xuất bản vào cuối những năm 30 - 40 của thế kỷ 20, một cuốn sách được hầu hết thầy trò những lớp sơ đẳng năm thứ 3 các trường ưa chuộng, nhất là các tỉnh phía Bắc.
Thầy Tụng tham gia kháng chiến chống Pháp. Sau khi miền Bắc giải phóng, thầy về làm kế toán trưởng Trường Sư phạm miền núi, rồi được cử về làm cán bộ cải tạo công thương nghiệp ở thành phố Hải Phòng và được phân công về đơn vị tôi phụ trách. Thầy trò gặp nhau tay bắt mặt mừng, nhưng “Thầy vẫn là thầy, trò vẫn là trò”, tuy chức vụ nay đã khác xưa. Tôi lúc nào cũng giữ lễ độ như khi còn là đứa trò nhỏ, vẫn xưng “con” với thầy. Nhiều lần thầy bảo tôi: “Nay trò là thủ trưởng, thầy là cán bộ dưới quyền, xưng hô như vậy thầy thấy ngượng”. Tôi phải giải thích mãi. Nhiều ngày chủ nhật thầy không về ngôi nhà 222 Hàng Bột, Hà Nội, thầy lại nhà tôi ăn bữa cơm “rau mắm”, chia sẻ với chúng tôi hoàn cảnh kinh tế khó khăn lúc đó. Thầy trò lại được một dịp hàn huyên vui vẻ, ôn chuyện cũ. Cho đến năm 1982 thầy qua đời. Lúc đó tôi là Bí thư Thành uỷ Hải Phòng, tôi lên viếng Thầy với bao xúc động. Cả nhà, cụ bà và các em đều khóc. Ngày hôm đó thật là ngày đau buồn!
Do xuất thân từ gia đình nhà nho nông dân yêu nước, nay lại trở về học chữ thánh hiền nhờ bác tôi và cha tôi dạy, được giáo dục theo “cửa Khổng, sân Trình” nên tôi thấm nhuần rất nhanh đạo đức Nho giáo. Để tôi có thêm ý thức về truyền thống gia đình, hai ông chú ruột con cụ nội tôi là cụ Đốc Khảm thường hay kể lại chuyện cụ tham gia phong trào Bãi Sậy, do chủ soái Nguyễn Thiện Thuật chỉ huy. Phó tướng thứ nhất kiêm Tham mưu trưởng là cụ Cử Đức. Chính cụ Cử từng ngồi dạy học ở nhà tôi 9 năm. Bên ngoài là dạy học, bên trong là chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy. Nhưng cuộc khởi nghĩa thất bại, các cơ sở ở Hưng yên bị phá gần hết, các cụ đều chuyển về nhà tôi ở Kim Thành với một số cơ sở ở Thanh Hà, ở Tứ Kỳ, cùng thuộc tỉnh Hải Dương. Mỗi khi có động, các cụ vượt sông Tường Vu, tức sông Rạng, sang Thanh Hà rồi đi Tứ Kỳ, tới một xã đảo trên sông Thái Bình ẩn náu. Nghe cha tôi kể lại, trước khi cụ Tán Thuật - Nguyễn Thiện Thuật - tránh nạn sang Trung Quốc, cụ đã lưu lại nhà tôi hơn một tháng. Trong thời kỳ cụ ở đây, sự canh gác vô cùng cẩn mật. Ông nội tôi vừa là nghĩa quân Bãi Sậy, vừa là học trò cụ Cử Đức, có trách nhiệm bảo vệ, cắt người canh gác từ đường số 5 và chung quanh nhà tôi. Đường số 5 nếu vạch thẳng vào nhà tôi như con đường ngày nay chỉ có 400m, nhưng trước đây do dân cư không có quy hoạch, đường sá xấu, nên đi vào nhà tôi phải mất cây số rưỡi.
---------------- 1. Bonne conduite et très bonne intelligence et très intelligent... | |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Làm người là khó« Trả lời #3 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2022, 03:55:42 pm » |
Sáng nào cụ Tán và cụ Cử cũng dậy rất sớm. Không có đồng hồ, các cụ dùng 3 nén hương đen, đốt hết là dậy, xem xét, nghe ngóng hiện tượng chim kêu, hót... để phán đoán tình hình. Có một buổi sớm tinh mơ, thấy con chim lợn kêu éc éc ba tiếng rồi bay đi, các cụ liền cho chuyển địa điểm ngay. Thuyền các cụ sang Thanh Hà thì khoảng tám, chín giờ hôm đó lính Tây cùng Tri huyện Kim Thành kéo đến khám nhà tôi. Chúng lục soát nhưng không bắt được tang vật. Bọn lính lấy cắp mất một ít đồ đạc vải vóc rồi bỏ đi.
Sau khi cụ Tán Thuật đã lánh nạn sang Trung quốc, cụ Cử Đức đã ổn định chỗ ở, cụ nội tôi - cụ Đốc Khảm, lên Huyện kiện về việc lính đến khám nhà ăn cắp tài sản. Quan Tri huyện hồi đó cùng đỗ cử nhân đồng khoa với cụ cử Đức (tôi quên tên ông ta) nên rất nể cụ đốc Khảm, đã đền bù chức “Phó tổng” cho một người con trai cụ Đốc. Quan điểm của các cụ tôi lại là học hành thành tài chỉ đi dạy học, làm thuốc cứu dân độ thế, chứ không làm bất cứ chức sắc gì để hợp tác với Pháp làm hại dân mình. Nhưng chức Phó tổng lúc đó cũng to, bỏ thì có người tiếc, nên các cụ bàn cứ để người cháu ngoại cụ Đốc, ông Nguyễn Văn Quốc, nhận chức đó, tạo thế hợp pháp che chở cho những người yêu nước và không được hà hiếp nhân dân.
Tôi học chữ nho gần 4 năm, học miệt mài. Cha tôi dạy: “Học phải như thiết như tha, như trác như ma, như nang huỳnh, như ánh tuyết” (có nghĩa học phải như mài, như dũa, như cắt, như cưa sắt, không có đèn dùng ánh sáng đom đóm, ánh trăng, ánh tuyết mà làm đèn học). Tôi thức khuya dạy sớm, nằm quỳ viết, hệt các nho sinh, sĩ tử ngày xưa. Nhờ dùi mài kinh sử, chẳng bao lâu tôi đã học hết Tứ thư, sang Ngũ kinh. Đặc biệt Kinh thi và Kinh Xuân thu (dạy cách trị quốc của phong kiến Trung Quốc) tôi phải nhập tâm rất kỹ. Do nỗi ấm ức vì không có điều kiện theo học quốc ngữ tại trường nên tôi dồn hết khát khao vào việc đèn sách tại nhà. Bởi vậy sự tiến bộ của tôi khiến mọi người ngạc nhiên.
Nhưng cha tôi không mấy khi khen con trước mặt. Tôi chỉ nghe lỏm được một lần bác tôi, người cùng dạy dỗ tôi, nửa đùa nửa thật nói nhỏ với cha tôi:
- Tôi và chú đèn sách có dễ hơn hai chục năm, học qua các cụ Cử, cụ Tú, kể cả cụ Thủ Khoa Huân... nhưng xem ra ta sắp hết chữ dạy thằng bé. Đúng thế. Tôi thực sự lấy làm lạ thằng bé này1!
Nghe vậy, cha tôi gạt đi. Người càng tỏ ra nghiêm khắc rèn cặp tôi hơn trước.
Tôi còn nhớ có lần sau khi học xong hai quyển thuộc bộ sách Mạnh Tử, bác và cha tôi bắt tập làm câu đối. Bác tôi ra vế:
“Sự Tề hồ ? sự Sở hồ ? Đằng Văn chi vấn thậm nan” (thờ vua nước Tề hay thờ vua nước Sở, vua Đằng Văn Công hỏi rất khó trả lời).
Tôi đối lại:
“Vi Tướng dã! vi Quân dã! Thứ dân diệc do bình dị ?” (làm tướng, hay làm vua, người dân cũng coi là dễ)
Bác tôi khuyên son tất cả, lại khen niêm luật đủ. Nhưng bác chê tôi không trích được điển tích. Quan trọng nhất là khẩu khí tôi coi thường nhà vua, lời lẽ ấy ngày trước thi viết có thể bị chém đầu như bỡn. Tôi thấy ngại, xin thôi không tập làm câu đối nữa, chỉ tập viết, làm vài bài thơ hoặc bài phú ngắn đưa trình bác tôi xem cho vui.
Các bạn đồng học với tôi hàng ngày đọc thật to những sách Bắc sử, Minh tâm chính văn... (cách học ngày xưa bắt buộc phải gào toáng lên như vậy) Tôi có cái thú lắng nghe những tiếng ê a của họ rồi thuộc lúc nào không nhớ. Đối với tôi cũng là một trò chơi thôi. Ai ngờ đến nay đã hơn 60 năm, tôi vẫn còn thuộc lòng hàng trang những bài học cũ, nhất là những bài mang tính triết lý cao mà mình tâm đắc.
Đương nhiên những thể loại thơ Đường luật như “Thất ngôn bát cú” hoặc “Tứ tuyệt” bằng chữ Hán, tôi có thể làm trong mươi mười lăm phút. Khi cảm xúc dào dạt thì thơ cũng thấy hay hay, khi bị bắt buộc thì ý tứ cũng đủ, nhưng thường thôi, gọi là có!
Ông nội tôi, cụ Khóa Thản, đã mất sớm trước khi tôi ra đời. Nghe cha tôi kể lại, cụ học giỏi, nhưng đi thi Hương ba, bốn bận chỉ đỗ đến “Nhị trường” vì “Phú” cụ kém. Ai đỗ “Tam Trường” thì giỏi là Cử nhân, trung bình là Tú tài. Cụ Khóa Thản dạy học ở nhiều nơi trong tỉnh, trong huyện. Học trò cụ khá đông. Cùng với số học trò cụ Đốc Khảm, thân sinh của cụ, cộng lại môn đồ hai cha con cụ có tới hàng trăm người. Tôi là cháu chắt nội các cụ, được thơm lây, đi đến đâu đều được trọng vọng, quí mến.
--------------- 1. Cụ Thủ Khoa Huân người Nam Hà, trùng tên với cụ Thủ Khoa Huân ở Nam Bộ ụ có thời ngồi dạy học ở nhà tôi. |
|
|