Lâm Viết Hữu – người đại đội trưởng dựng sa bàn trên đất
Không đọc được bản đồ nhưng giỏi quan sát và chiến thuật, Lâm Viết Hữu dùng sa bàn đất để chỉ huy Đại đội 671 đánh cụm Cây đa cụt trên đồi A1.
Trong đêm cuối cùng của trận đồi A1, một đại đội trưởng bị thương ở trán, máu chảy xuống mặt nhưng vẫn tổ chức lại hỏa lực và chỉ huy bộ đội xung phong. Người chỉ huy ấy là Lâm Viết Hữu, một cán bộ chưa đọc thông viết thạo nhưng có khả năng ghi nhớ mệnh lệnh, dựng sa bàn và vận dụng chiến thuật ngay giữa chiến trường.
Lâm Viết Hữu sinh năm 1926, quê xã Đình Xuyên, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, ông là Đại đội trưởng Đại đội 671, Tiểu đoàn 251, Trung đoàn 174, Đại đoàn 316. Trước khi chiến dịch chính thức mở màn, ông đã trực tiếp tham gia những trận đánh tạo thế ở khu vực Tây Bắc.
Ngày 12/12/1953, Lâm Viết Hữu chỉ huy đơn vị truy kích và chặn quân Pháp rút từ Lai Châu về Điện Biên Phủ tại Mường Pồn. Trong trận đánh này, liên lạc viên Bế Văn Đàn đã lấy thân mình làm giá súng để đồng đội tiếp tục chiến đấu. Sau Mường Pồn, đơn vị ông còn tham gia các trận ở Tà Lèng, Đồi Xanh và Đồi Cháy.
Đến cuối tháng 3/1954, chiến sự tập trung vào những cao điểm phía đông khu trung tâm Mường Thanh. Đồi A1 là vị trí quan trọng nhất, được quân Pháp xây dựng thành cụm phòng ngự kiên cố. Đêm 31/3, đại đội Lâm Viết Hữu nhận lệnh tiến công từ hướng mà đơn vị bạn đã đánh hôm trước, phối hợp với Trung đoàn 102.
Đại đội có hơn 100 cán bộ, chiến sĩ khi bước vào trận. Họ đánh lên gần vị trí chiếc xe tăng trên đồi và phá hủy nó, nhưng gặp hỏa lực mạnh, thương vong rất lớn. Khi nhận lệnh rút ra, Lâm Viết Hữu kiểm tra quân số chỉ còn 19 người. Sau hai đêm chiến đấu, ông được gọi lên báo cáo tình hình với Bộ chỉ huy.
Lâm Viết Hữu khi ấy mới biết đánh vần và tập ký tên, không đọc được bản đồ tác chiến. Khi Tham mưu trưởng Mặt trận Hoàng Văn Thái chỉ bản đồ hỏi tình hình A1, ông thẳng thắn báo cáo rằng mình không hiểu bản đồ, rồi mô tả địa hình và trận địa bằng những gì trực tiếp quan sát được.
Mỗi khi nhận mệnh lệnh, Lâm Viết Hữu tập trung ghi nhớ từng nội dung. Trở về đơn vị, ông dùng đất dựng sa bàn, vạch vị trí công sự và hướng tiến công để phổ biến cho bộ đội. Cách truyền đạt bằng mô hình trực quan giúp chiến sĩ hiểu nhiệm vụ cụ thể. Đồng đội về sau nhớ ông là người không giỏi chữ nghĩa nhưng nắm chiến trường nhanh và có năng lực tổ chức chiến đấu.
Sau nhiều đợt tiến công và phòng ngự giằng co, quân ta chuẩn bị đánh trận cuối cùng tại A1. Một đường hầm được đào sâu vào lòng đồi, đặt khối bộc phá gần 1.000kg dưới hệ thống công sự của đối phương. Đại đội 671 nhận nhiệm vụ đánh vào cụm đề kháng “Cây đa cụt”, còn được bộ đội gọi là ụ “thằng người”, để chia cắt quân Pháp và tạo điều kiện cho Tiểu đoàn 249 đánh chiếm khu vực đỉnh đồi.
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 6/5/1954, khối bộc phá được điểm hỏa. Khi cửa mở được phá thông, bộ đội Đại đội 671 tiến lên. Quân Pháp tập trung hỏa lực bắn chặn, khiến đơn vị tiếp tục chịu thương vong. Lâm Viết Hữu bị thương ở trán, máu chảy xuống mặt nhưng không rời vị trí chỉ huy.
Ông nhanh chóng tổ chức lại hỏa lực, điều chỉnh đội hình rồi ra lệnh xung phong. Trong quá trình tiến công, đơn vị tiêu diệt 38 quân địch, phá hủy ba khẩu trung liên và một khẩu đại liên, làm chủ hoàn toàn cụm đề kháng Cây đa cụt.
Đến gần sáng, đại đội tiếp tục phá hủy bốn ụ súng, tiêu diệt 20 quân địch và bắt sống 45 người. Cùng với các đơn vị bạn, họ hoàn toàn làm chủ đồi A1 lúc 4 giờ 30 phút ngày 7/5/1954. Việc A1 thất thủ làm mất lá chắn quan trọng bảo vệ sở chỉ huy tập đoàn cứ điểm và tạo điều kiện để quân ta chuyển sang tổng công kích.
Kết thúc Chiến dịch Điện Biên Phủ, Lâm Viết Hữu được bầu là Chiến sĩ thi đua của Đại đội 671. Ông tiếp tục trưởng thành trong quân đội, từng giữ cương vị Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 174, Đại đoàn 316.
Ngày 22/12/2009, Lâm Viết Hữu được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ông qua đời năm 2011. Tháng 3/2014, người con trai cả của ông trao tặng Huy hiệu Anh hùng và Bằng Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam để lưu giữ, trưng bày.
Câu chuyện về Lâm Viết Hữu cho thấy năng lực chỉ huy không chỉ nằm trên trang bản đồ. Bằng trí nhớ, khả năng quan sát và những sa bàn vạch trực tiếp trên đất, ông biến mệnh lệnh thành hành động cụ thể, dẫn đơn vị vượt qua tổn thất và hoàn thành nhiệm vụ ở thời khắc quyết định của trận A1.



