Khác

"Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh - Đài hoa vĩnh cửu": Phần I - NHỮNG GIỜ PHÚT KHÔNG THỂ NÀO QUÊN TRONG NĂM 1969

Đồng Tháp09/08/2026Chi đoàn Trường Tiểu học Trần Quốc Toản ((LĐ) Đoàn phường Lang Biang - Đà Lạt)6 lượt xem0 lượt chia sẻ
"Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh - Đài hoa vĩnh cửu": Phần I - NHỮNG GIỜ PHÚT KHÔNG THỂ NÀO QUÊN TRONG NĂM 1969

Hà Nội. Mùa hè năm 1969.

Đã 24 năm qua đi, gần một phần tư thế kỷ, nếu tính từ năm 1945 lịch sử.

Năm nay Bác đã 79 tuổi, sức khoẻ giảm sút nhiều. Có lẽ dấu hiệu quan trọng đầu tiên về sự sa sút sức khỏe và bệnh tật ấy là trận ốm năm 1966. Năm ấy, Bác đi thăm đồng bào Thái Bình về đã bị co thắt động mạch não, liệt nhẹ nửa người. Các bác sĩ giỏi nhất đã được tập trung hết lòng cứu chữa. Bác đã đỡ nhiều, tuy nhiên từ đó việc đi lại của Bác nhiều khi đã phải dùng một cây can nhỏ (gậy cầm tay của những người già yếu). Cũng từ đó, Bác được Bộ Chính trị liên tục hết lòng chăm nom thuốc thang. Nước bạn Trung Quốc cũng đã mời Bác sang chữa bệnh. Bản thân Bác cũng chăm luyện tập thân thể hơn với một nghị lực rất lớn.

Buổi sáng ngày 10 tháng 5 năm 1969, như thường lệ, từ 5 giờ 30 phút Bác đã dậy để lập thể dục. Đồng chí Vũ Kỳ, người thư ký hết sức thân tín của Bác, bao giờ cũng đã đợi sẵn ở chân cầu thang ngôi nhà sàn để đón Bác. Thường mọi hôm Bác còn gọi cả đồng chí Tô (tên gọi thân mật của đồng chí Phạm Văn Đồng) ở ngôi nhà xây hai tầng ngay gần bãi xi măng bóng rổ trong Phủ Chủ tịch. Nhưng hôm nay đồng chí Tô dậy muộn vì tối qua bận làm việc quá khuya. Để đồng chí Tô ngủ tiếp, hai Bác cháu cùng nhau tới đường Xoài tập một hồi, rồi quay trở lại.

Đi bộ xong, Bác còn tưới cây, cho cá ăn ở hồ xong mới vào để điểm tâm rồi mới trở lại nhà sàn làm việc. Đồng chí Kỳ vẫn cẩn thận cùng đi theo Bác lên từng bậc thang để sẵn sàng đỡ nếu Bác lỡ xảy chân. Trước khi đồng chí Kỳ trở xuống, Bác quay lại dặn: Sáng nay Bác bận việc, không tiếp khách. Ai hỏi gì, xin lui lại chiều hoặc sáng mai.

image.png

Đồng chí Kỳ nhớ rồi: Sáng nay là ngày 10 tháng 5, như thường lệ từ năm 1965 tới nay, hàng năm Bác vẫn sửa lại bản Di chúc đã viết từ năm đó. Trên góc trang đầu của bản Di chúc, Bác đã ghi mấy chữ "Tài liệu tối mật”. Là thư ký riêng, đồng chí Kỳ đã được Bác đưa cho giữ bản “Tài liệu tối mật” ấy mỗi khi Bác đi công tác hoặc sang Trung Quốc chữa bệnh. Năm 1965, Bác vẫn còn khoẻ mạnh, nhưng chiến tranh đang có chiều hướng ác liệt hơn. Mỹ đã đổ thêm quân vào miền Nam khá nhiều và bắt đầu đánh bom cả ra miền Bắc. Hải quân chúng đã bắn phá một số điểm trên bờ biển nước ta. Bọn biệt kích liên tục được chúng  tung ra miền Bắc. Chiến tranh rõ ràng đã lan ra cả nước và ngày càng khốc liệt. Do đó rất cần có cái nhìn vững vàng trên toàn cuộc và rất cần sự động viên lớn hơn nữa. Toàn Đảng,toàn dân quyết chiến đấu, dù gian lao, cực khổ đến đâu. Mặt khác, về phần mình, năm ấy tuổi Bác đã cao, vì thế Bác đã viết Di chúc, nhưng chỉ ngắn gọn trong khoảng một ngàn chữ. Sự nghiệp cả một đời người nhìn lại, cộng với những tư tưởng lớn soi sáng cho cả những năm dài mai sau mà chỉ gói trong có một nghìn chữ, rất cô đọng. Tác phong sống và cả văn phong của Bác trong các tài liệu, cả báo chí, thơ ca… xưa nay vẫn thế: Hết sức giản dị nhưng cũng hết sức cô đọng và vô cùng sâu sắc. Qua bốn năm, đã sửa đi sửa lại bản di chúc này, năm nay Bác thấy vẫn cần sửa thêm.

… Trên nhà sàn, Bác kéo ghế ngồi trước bàn. Dù không được khoẻ, Bác vẫn rất ung dung, tao nhã, chòm râu hiền nhân và thông thái tuyệt đẹp. Bác cầm bút lên. Tâm hồn Bác thật bình tĩnh. Tư tưởng, trí tuệ Bác hoàn toàn sáng suốt. Bác đã nghĩ trước rồi, năm nay, trước tình hình mới Bác sẽ sửa lại đoạn mở đầu bản Di chúc: Nhấn mạnh hơn nữa, khẳng định hơn bao giờ hết: Chúng ta nhất định thắng, giặc Mỹ xâm lược nhất định thua. Chiến tranh càng ác liệt, điều đó càng phải khẳng định, phải chốt lại kiên quyết nhất. Năm nay, Bác cũng sẽ bổ sung, nhấn mạnh về sự đoàn kết thiêng liêng trong Đảng. Thật vậy, đó chính là yếu tố quan trọng hàng đầu để đưa nhân dân ta tới chiến thắng và xây dựng Tổ quốc.

image.png

Trong lúc đó, ở nhà dưới, đồng chí Vũ Kỳ bỗng nghe có chuông điện thoại liền nhấc máy lên nghe. Ông Kỳ nhận ra ngay người gọi ở đầu dây bên kia là Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bí thư Quân uỷ Trung ương. Vẫn như mọi lần, câu đầu tiên của đồng chí Văn (tên gọi thân mật của Đại tướng Võ Nguyên Giáp) hỏi là đêm qua Bác ngủ có yên giấc không, sáng nay Bác ăn uống thế nào, Bác vẫn tập thể dục đều như mọi hôm chứ?. Rồi Đại tướng ngỏ ý muốn sang thăm sức khoẻ Bác. Đồng chí Kỳ cân nhắc: Mới cách đây một ngày, cũng trong trường hợp Bác đang làm việc, đồng chí Trường Chinh gọi điện đề nghị được gặp Bác. Không muốn Bác phải ngừng công việc của mình, ông Kỳ đã khéo léo nghĩ được một cách là mời đồng chí Trường Chinh đến cùng dùng bữa trưa với Bác rồi sẽ nói chuyện cả thể. Vậy hôm nay, có lẽ cũng lại đề nghị với đồng chí Văn như vậy chăng? Nhưng Bác đã dặn rồi, ai hỏi, xin lui lại. ông Kỳ bèn đề nghị với Đại tướng là đến chiều. Đại tướng đồng ý. Ông Kỳ mừng quá.

Buổi chiều, đúng hẹn, Đại tướng Tổng Tư lệnh tới. Dạo này đồng chí sang thăm Bác luôn luôn, hôm cả buổi, hôm ít nhất cũng nửa tiếng hoặc một giờ. Bác rất biết tấm lòng đặc biệt của đồng chí Văn, người đồng chí, người học trò yêu quý, gắn bó nhất của Bác kể từ khi Bác về Pắc Bó năm 1941. Bác đã sớm nhìn thấy ở đồng chí một con người trí thức cách mạng rất trí tuệ, rất trung thực và đầy tài năng trong xây dựng, chỉ huy quân đội, dù chưa bao giờ được đào tạo ở một trường quân sự nào.

Bác tiếp đồng chí Văn ở ngay dưới ngôi nhà sàn.Bao giờ cũng vậy, Bác ân cần và sốt sắng hỏi trước, dường như Bác có ý không muốn để đồng chí Văn hỏi về sức khoẻ của mình. Bác đã rất cố gắng làm sao cho được bình thường như trước đây với giọng ấm áp và hiền hậu:

- Thế nào chú, tình hình chiến sự trong kia mấy hôm nay ra sao? Việc các đồng chí trong ấy chuẩn bị để Chính phủ Cách mạng lâm thời sẽ ra mắt vào tháng 6 hoặc tháng 7, nay công việc tới đâu rồi?...

Cũng như tất cả mọi lần gần đây sang thăm Bác, e Bác mệt, đồng chí Văn chỉ báo cáo rất vắn tắt mọi việc và trong khi Bác chăm chú nghe, đồng chí Văn vẫn không quên thầm quan sát, ngắm nhìn thần thái Bác như mọi khi, để coi sức khoẻ Bác hôm nay có gì khác, có tiến triển gì không?. Hôm nay, đồng chí nhận thấy: Khi hỏi, khi nói, dù Bác đã cố giữ giọng cho được như xưa, nhưng vẫn không được đều cho lắm, có lúc nghe như yếu và nhỏ đi như hụt hơi hoặc tắc nghẹn lại trong một, hai giây. Đồng chí Văn không thể không thêm lo lắng và thầm xót xa. Các bác sĩ giỏi về chuyên khoa tim mạch, não đã được Bộ Chính trị bố trí thường xuyên bên Bác để săn sóc, trông nom, thuốc men hàng ngày, nhưng nay xem ra bệnh của Bác chẳng hề lui, sức khoẻ Bác vẫn có chiều giảm sút.

image.png

Thật vậy, đúng như đồng chí Văn đã đoán biết, dù Bộ Chính trị đã hết lòng quan tâm chăm lo, sau một năm xảy ra "sự cố” về tim mạch, sức khoẻ của Bác vẫn không có tiến triển gì rõ rệt. Ngày 15 tháng 7 năm 1967, Bộ Chính trị đã mở một cuộc họp bất thường bí mật cực kỳ quan trọng. Đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng chủ trì cuộc họp này. Cuộc họp đã bàn, một mặt tăng cường hết lòng chăm lo sức khoẻ của Bác, mặt khác Bộ Chính trị nhận thấy tuổi Bác đã ngày càng cao mà bệnh tình lại như vậy, phải can đảm và thực tế nghĩ tới sự kiện cực kỳ đau lòng là Bác có thể không lâu nữa sẽ “ra đi”… Do đó phải tính tới việc lo liệu và phải có ngay quyết định lưu giữ thi hài Bác lâu dài cho nhân dân cả nước, nhất là miền Nam được “chiêm ngưỡng” Bác - vị Anh hùng vĩ đại của dân tộc, đã lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân đánh bại kẻ thù ngoại xâm hung ác nhất, đồng thời chấm dứt mấy nghìn năm chế độ phong kiến lạc hậu, khai sinh ra nước Việt Nam mới - nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đầu tiên ở Châu Á này.Đó là một nghị quyết lớn và cực kỳ khó khăn bởi nếu biết Bác sẽ không cho thực hiện. Đã tính hết mọi nhẽ. Để đáp ứng nguyện vọng của toàn dân, Bộ Chính trị quyết định lưu giữ thi hài Bác lâu dài và sẽ xây một ngôi Lăng của Người. Bộ Chính trị tin là toàn dân sẽ hoàn toàn ủng hộ, và cũng tin rằng lịch sử sẽ chứng minh cho quyết định này là hoàn toàn chính xác. Trong cuộc họp ấy, Quân uỷ Trung ương đã được trao nhiệm vụ lưu giữ thi hài Bác nếu vạn nhất Bác phải "nằm xuống". Bộ Kiến trúc được trao cho vai trò chủ yếu trong việc xây dựng Lăng, phải làm sao cho tương xứng với công ơn trời biển của Bác, với uy tín và lòng kính phục Bác của nhân dân ta, của bạn bè thế giới. Trong phân công nhiệm vụ, Bộ Chính trị còn tỉ mỉ hơn nữa: Đã chỉ định cụ thể đồng chí Nguyễn Lương Bằng trực tiếp theo dõi và chăm sóc sức khoẻ Bác hàng ngày. Đồng chí Lê Thanh Nghị được Bộ Chính trị phân công bí mật, thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ sớm sang Liên Xô hội đàm đề nghị Bạn giúp đỡ ta đào tạo gấp một số cán bộ y tế chuyên về lưu giữ thi hài, đồng thời giúp ta những phương tiện chuyên dùng và thuốc men đặc biệt cần thiết trong công việc đó.

Sau cuộc họp tối mật, tối quan trọng ấy chỉ vài ngày, đồng chí Lê Thanh Nghị đã lên đường đi Liên Xô. Mọi yêu cầu của chúng ta về đề nghị Liên Xô giúp đỡ giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã được Bạn đồng ý và cam kết sẵn sàng đào tạo cán bộ y tế cho Việt Nam. Một Tổ Y tế cũng được Quân uỷ cho thành lập gấp và đưa sang Liên Xô để học về lưu giữ thi hài lâu dài.

Tháng 8 năm 1968, sau một thời gian học tập, Tổ Y tế gồm 3 cán bộ, bác sỹ từ Mát-xcơ-va đã về đến Hà Nội. Bác sĩ Lê Ngọc Mẫn, một trong ba thành viên của Tổ Y tế, đã được điều ngay sang nơi Bác ở, tăng cường cho một bác sĩ vốn đã ở đây từ lâu - bác sĩ Nhữ Thế Bảo - để cùng trông nom sức khoẻ cho Bác. Còn hai bác sĩ: Nguyễn Gia Quyền và Lê Điều được Quân uỷ cho bổ sung thêm một số bác sĩ, y sĩ khác, thành lập một Tổ Y tế đặc biệt (do bác sĩ Quyền làm Tổ trưởng) có nhiệm vụ chuẩn bị cơ sở vật chất làm các thực nghiệm khoa học trong điều kiện nước ta, để khi Bác “nằm xuống” sẽ có thể chủ động được công việc nếu Bạn chưa kịp sang.

image.png

Gần như song song với việc này, Quân uỷ đã quyết định làm một cơ sở thí nghiệm dựa vào Khoa Giải phẫu hình thể của Bệnh viện Quân y 108, mang biệt danh 75A; ngoài ra còn làm một cơ sở tương tự ở ngay Hội trường Ba Đình để đưa thi hài Bác tới làm Lễ Quốc tang mang mật danh 75B.

Song song với công việc bí mật làm hai cơ sở 75A, 75B, các việc chuẩn bị khác cho "đại sự” cũng đã được lo liệu rất chu đáo. Tuy nhiên, Đảng và Chính phủ vẫn tiếp tục hết sức chăm lo chu đáo về mặt sức khỏe cho Bác với niềm hy vọng và cầu mong là Bác sẽ ngày càng khoẻ mạnh và có thể kéo dài tuổi thọ.Nhưng tiếc thay, đau đớn thay, tới nay chỉ bằng mắt thường không phải của các nhà y học chuyên sâu, Đại tướng và nhiều người khác đều thấy sức khoẻ Bác giảm sút nhiều…

Sợ Bác mệt, báo cáo vắn tắt về tình hình chiến sự xong, đồng chí Văn chuyển sang báo cáo với Bác việc sẽ có một đoàn lớn đại biểu của toàn quân sẽ tới chúc thọ Bác nhân dịp ngày sinh nhật lần thứ 79. Bác sẽ gặp gần như đầy đủ các đồng chí trong Bộ Chính trị, Bộ Quốc phòng, chỉ trừ một số đồng chí đã vào Nam. Bác tỏ ra rất vui…

Khi đồng chí Văn đứng dậy xin phép Bác ra về, không ngờ, vẫn như mọi khi, Bác lại nhắc lời đề nghị tha thiết của Bác từ mấy năm nay: Hãy cố gắng cùng các đồng chí Bộ Chính trị tổ chức cho Bác được vào thăm đồng bào trong Nam. Đầy xúc động, Bác nói:

- Chú Văn ạ, chưa vào thăm đồng bào yêu quý ở miền Nam được, sau đây nếu có chết đi, làm sao mà Bác có thể dễ dàng nhắm mắt?

Gần như bàng hoàng, nhưng đồng chí Văn cũng chỉ biết hứa về phần mình sẽ đề nghị tích cực hơn nữa với các đồng chí có trách nhiệm. Tuy nhiên, trong đáy lòng mình, một nỗi xót xa đã ngập đầy. Chiến tranh thì ngày càng ác liệt, khó khăn càng nhiều hơn, chưa nói tới những trở ngại khác, chỉ riêng sức khoẻ của Bác năm nay - mặc dầu Bác nói vẫn đủ khả năng đi - rõ ràng là càng kém hơn mọi năm. Vậy ai dám tổ chức đưa Bác đi, dù hiểu rất rõ tấm lòng của Bác yêu quý đồng bào miền Nam sâu sắc không có gì so sánh nổi. Bác ơi, cầu xin hãy cảm thông cho tâm trạng hiện nay của nhân dân, của tất cả học trò, tất cả những người đồng chí, những người chiến sĩ vô cùng tin yêu Bác..

Ngay hôm sau, ngày 11 tháng 5 năm 1969, sớm hơn ngày sinh của Bác mấy ngày, đúng như lời đồng chí Văn, một đoàn lớn gồm toàn các tướng lĩnh, chỉ huy, lãnh đạo thuộc đủ các quân khu, quân binh chủng đang có một cuộc họp quan trọng tại Hà Nội đã dừng lại một buổi, cùng nhau tới Nhà khách Phủ Chủ tịch để chúc thọ Bác. Đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương, các đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Lương Bằng, Lê Thanh Nghị, Lê Văn Lương, Song Hào, Quang Đạo… cùng đến chúc mừng Bác. Trong khi đợi Bác, mọi người ngồi trò chuyện vui vẻ. Nhiều người không quên nhắc lại một số buổi lễ sinh nhật trước đây của Bác. Đó là sinh nhật Bác năm 1946, năm độc lập đầu tiên, ở Hà Nội - Bắc Bộ Phủ, Bác đã tiếp các đoàn đại biểu của sinh viên, học sinh, thiếu nhi và tự vệ. Rất vui vẻ, Bác đã tặng các cháu thiếu nhi một cây hoa mai và nói: “mai chủ yếu là ở miền Nam của Tổ quốc". Trong lúc đó, ngoài đường phố, nhiều đoàn thanh niên xếp hàng tuần hành thị uy trước những nơi có phái đoàn quốc tế, vừa đi anh em vừa hát vang các bài ca cách mạng và liên tục hô vang: "Hồ Chủ tịch muôn năm!", "Nước Việt Nam độc lập muôn năm". Một số phóng viên Mỹ và cả phóng viên Pháp đi theo Xanh-tơ-ny (đại diện Chính phủ Pháp sang ta thảo luận nhiều vấn đề cấp bách) chứng kiến cảnh ấy đã phải phát biểu: "Cụ Hồ quả là có một uy tín rất lớn. Không phải ở nước nào trên thế giới cũng có được một lãnh tụ như vậy"… Tới cuối năm 1946, kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Chính phủ bí mật dồn lên chiến khu. Những lễ mừng sinh nhật Bác từ đó làm rất giản dị. Trong lễ mừng sinh nhật năm 1949, Bác đã làm một bài thơ, nay nhiều người vẫn còn nhớ:

Vì nước chưa nên nghĩ tới nhà

Năm mươi chín tuổi vẫn chưa già

Chờ cho kháng chiến thành công đã

Bạn sẽ ăn mừng sinh nhật ta.

Cho tới 19 tháng 5 năm 1965, Bác đã trên 75 tuổi. Dịp ấy Bác đi công tác xa, một cán bộ cảnh vệ đã mạnh dạn làm mấy câu thơ dâng Bác:

Chúng con chúc Bác sống trăm năm

Để cứu non sông, để cứu dân

Đuổi hết những loài quân xâm lược

Vạn phúc Việt Nam vạn phúc hồng.

Mọi người còn đang vui chuyện thơ, văn, thì cửa phòng bên mở rộng. Bác gắng làm ra vẻ nhanh nhẹn bước ra. Vẫn nụ cười rất tươi và hiền hậu, vẫn bộ bà ba nâu giản dị và đôi dép cao su quen thuộc. Tuy nhiên, mái tóc Bác đã bạc nhiều hơn, chòm râu thông thái cũng vậy và khuôn mặt cũng hao gầy hơn. Tất cả mọi người đều đứng cả dậy reo vang cùng những tiếng hô xúc động kéo dài: "Hồ Chủ tịch muôn năm!”, "Bác Hồ kính yêu muôn năm!"… Niềm tin yêu và tôn kính tràn ngập khắp căn phòng. Cũng giống như mọi khi, Bác mỉm cười dang cả hai tay rồi hạ xuống có ý bảo xin ngừng lại. Nhưng Bác phải vẫy lay tới mấy lần tiếng hô, tiếng reo mới chấm đứt. Tất cả mọi người đều vẫn đứng. Bác ôn tồn nói:

- Mời các chú ngồi. Các chú khoẻ không?

Tất cả cùng đáp vang:

- Thưa Bác khoẻ ạ.

Bác gật đầu:

- Vậy tốt lắm, Bác rất mừng.

Đến đó, đồng chí Võ Nguyên Giáp đứng lên phát biểu chúc Bác sống lâu muôn tuổi để lãnh đạo toàn quân, toàn dân quyết định đánh bại hoàn toàn giặc Mỹ, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa giàu đẹp.

Trong khi Đại tướng phát biểu, mọi người vẫn ngắm nhìn Bác như ngắm nhìn một người Cha với tất cả niềm tin, niềm vui, nhưng cũng với cả những nỗi buồn lo thầm kín về sức khoẻ của Bác.

Tiếp đó, Thiếu tướng Vương Thừa Vũ, Phó Tổng Tham mưu trưởng đứng lên chúc thọ Bác. Đó là người “anh hùng” từ cuộc vượt ngục Nghĩa Lộ trước Tổng khởi nghĩa cho tới trận chiến đấu oanh liệt hai tháng trời trong lòng Hà Nội tháng Chạp năm 1946 chống Pháp… rồi tới Điện Biên Phủ với trận Đồi Độc Lập vang dội và tiếp đó là trận cắt đứt sân bay “cái dạ dày" của tập đoàn cứ điểm. Đồng chí Vũ có đặc điểm: Nói năng sang sảng, rất oai dũng. Hôm nay đồng chí được phân công thay mặt anh em ôm một bó hoa lớn lên chúc thọ Bác nhưng xúc động quá, đồng chí nói khá vấp váp. Bác cười, rút một bông hoa đưa tặng lại cho đồng chí Vũ, rồi làm ra vẻ ngạc nhiên hỏi:

- Này, Hổ tướng mà nói như chim vậy à?

Cả hội trường vỡ oà trong tiếng cười vui vẻ. Bác vẫn thế: Cực kỳ trí tuệ, cực kỳ nghiêm túc và kiên quyết trong mọi công việc, nhưng đồng thời cũng luôn hóm hỉnh, thông minh trong quan hệ bạn bè, đồng chí và nhân dân. Không khí buổi chúc thọ Bác càng thêm vô cùng ấm áp. Tất nhiên nhiều đồng chí cũng như đồng chí Văn bữa nọ vẫn không khỏi âm thầm đau buồn nhận thấy tiếng nói của Bác hôm nay đôi lúc vẫn nhỏ đi và dường như bị ngắt lại một chút.

Sáng hôm sau (13- 5-1969), Bác lại có cuộc tiếp khách khác. Ban Bí thư Trung ương định báo cáo với Bác xin lui cuộc tiếp này vài ngày nữa vì e Bác mệt. Tuy nhiên khi hỏi ai muốn gặp, được trả lời là đồng chí Xuân Thuỷ vừa lừ Hội nghị Pa-ri trở về báo cáo, Bác bảo mời sang ngay. Và đồng chí Xuân Thuỷ đã tới không phải chỉ một lần mà theo chỉ thỉ của Bác còn phải tới lần thứ hai để Bác hỏi thêm nhiều điều cần thiết và góp ý với phái đoàn. Đồng chí Xuân Thuỷ đã luôn luôn ôm lấy bàn tay Bác và hứa sẽ chấp hành mọi lời chỉ giáo quý báu của Bác.

Đến đúng ngày 19 tháng 5, lại có hai người khách nữa xin được gặp Bác. Đó là chị Phan Thị Quyên, vợ anh Nguyễn Văn Trỗi và chị Lê Thị Vân phụ trách công tác thanh niên, sinh viên của Sài Gòn - Gia định.Hai người vừa trông thấy Bác đã chạy oà tới ôm chầm lấy Bác như những đứa con đi xa quá lâu ngày mới được trở về gặp Cha. Hai chị khóc, khóc mãi không thôi, khóc vì vinh dự, vì quá yêu kính Bác, khóc còn vì đã được nghe biết Bác đang đau yếu nhiều. Chiều hôm đó Bác đã trò chuyện, cùng ăn cơm với hai chị em. Khi hai chị ra về, Bác đặt tay lên ngực mình, nói với ông Vũ Kỳ: "Bao giờ cũng vậy, gặp các cô, các chú, các cháu trong Nam ra, Bác cũng vô cùng sung sướng và thấy khoẻ ra".

Sáng tháng 6. Bác đỡ bận rộn hơn, đồng chí Hà Huy Giáp tới gặp Bác xin chỉ thị về việc xuất bản sách "Người tốt việc tốt…

Bước qua tháng 7, Bác tiếp đồng chí Mac-ta Rô-hát - Chủ nhiệm báo Granma - cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Cuba. Cuộc phỏng vấn hết sức tốt đẹp. Bác đã tâm sự với Mac-ta Rô-hát: "Ở miền Nam chúng tôi, mỗi người, mỗi gia đình đều có nỗi đau khổ riêng. Gộp cả những nỗi đau ấy lại là nổi đau buồn của chính tôi. Tôi biết rằng tôi chưa làm tròn nhiệm vụ cách mạng của tôi với đồng bào miền Nam. Mặc dù vậy, tôi biết đồng bào miền Nam vẫn thương quý tôi như tôi rất yêu quý họ. Ở miền Nam, tôi không phải là Hồ Chủ tịch mà tôi là Bác Hồ".

Sau đó Bác đồng chí Sác-lơ Phuốc-nhê-ô, phóng viên báo Nhân đạo – cơ quan của Trung ương Đảng Cộng Sán Pháp. Bác cũng đã nói với Sác-lơ: "Nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi trước hết vì có hai vũ khí lớn: Một là truyền thống chống xâm lược anh hùng hàng nghìn năm của Tổ quốc tôi và đó cũng là lòng yêu nước rất lớn Việt Nam; hai là chủ nghĩa cộng sản mà hai Đảng của chúng ta đang cùng theo đuổi, mà hạt nhân của nó theo chúng tôi là biết suy nghĩ và hành động theo phép biện chứng trên quan điểm duy vật".

Từ lâu, để giữ gìn sức khỏe cho Bác, Bộ Chính trị đã dành thời gian để Bác được nghỉ ngơi, chữa bệnh nên phần nhiều chỉ bố trí khách tới thăm sức khoẻ, hoặc làm việc nhẹ nhàng. Bác hiểu, tuy nhiên Bác vẫn coi trọng tất cả mọi cuộc tiếp xúc, và rất vui khi cảm thấy mình vẫn còn làm được nhiều việc hữu ích.

Bước sang tháng 8 (2-8-1969) Bác lại có cuộc gặp đồng chí Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc), Phó Bí th­ư Trung ương Cục miền Nam, kiêm Bí thư Đảng bộ Sài Gòn - Gia định mới ra Hà Nội họp.

Sáng hôm ấy, cùng đi tập về, Bác dặn đồng chí Vũ Kỳ:

- Chú nhắc nhà bếp chiều nay làm cơm để Bác tiếp đồng chí Mười Cúc. Nhớ làm cho mấy món miền Nam. Mời cả chú Tô và cả chú nữa, ta cùng ăn cơm cho vui.

Đúng 16 giờ 15 phút đồng chí Mười Cúc tới. Bác đã đón sẵn ở dưới ngôi nhà sàn trong trang phục bà ba đen, một cặp kính trắng, đầu trần, đi dép nhựa giản dị. Đồng chí Nguyễn Văn Linh khoẻ mạnh và nhanh nhẹn bước tới ôm lấy Bác. Đã được nghe nói về sức khoẻ của Bác từ trong kia, bây giờ được gặp Bác, đồng chí Linh không khỏi cảm thương. Bác khoác vai đồng chí Mười Cúc cùng vào phòng họp của Trung ương và Bộ Chính trị dưới ngôi nhà sàn. Bác đã biết đồng chí Nguyễn Văn Linh lừ lâu, một con người chân chính, một trong những đồng chí lãnh đạo có đầu óc thông minh, xuất sắc của Đảng ta, vừa có tài năng, trí tuệ vừa có đức độ nên trong Nam ai ai cũng ca ngợi. Đồng chí Tô đã sang. Đồng chí Mười Cúc bắt đầu báo cáo cụ thể với Bác và đồng chí Tô về tình hình chiến trường miền Nam. Tất nhiên cũng chỉ là tóm tắt, khái quát vì đồng chí biết Bác đang rất yếu. Khi đồng chí kể đến những cuộc tàn sát dã man của Mỹ, nguỵ trên chiến trường miền Nam hiện nay, Bác đã không cầm được nước mắt. Đồng chí Nguyễn Văn Linh nhiều lần phải ngừng lại và chính mình cũng phải rớm lệ - rớm lệ vì tấm lòng của Bác đối với miền Nam. Rồi đồng chí tóm tắt hơn nữa, sợ Bác nghe nhiều sẽ mệt.Sau khi dùng cơm xong, xin phép Bác ra về, đồng chí Mười Cúc bỗng được Bác cầm tay giữ lại:

- Bác đề nghị đồng chí khi trở vào hãy bàn với Trung ương Cục hoặc Đảng bộ Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia định cố tìm cách cho Bác vào thăm bà con cô bác trong đó. Bác sẵn sàng nghi trang để địch khỏi nhận ra. Bác có thể sẽ cạo bỏ cả bộ râu này đi...

Hoàn toàn sững sờ, đồng chí Linh chỉ còn biết lặng người đi rồi thành thực thưa với Bác xin hãy thư thư cho. Tình hình hiện nay dẫu sao vẫn còn rất nhiều khó khăn.

Và gần như nghẹn ngào, đồng chí Linh lặng người đi rồi thành thực thưa với Bác xin hãy thư thư cho bởi tình hình hiện nay dẫu sao vẫn còn rất nhiều khó khăn. Trong xúc động nghẹn ngào, đồng chí Linh càng hiểu hơn: Cho tới lúc này mặc dầu sức khoẻ đã kém đi như vậy nhưng Bác vẫn tiếp tục tha thiết yêu cầu được vào Nam thăm bà con cô bác. Miền Nam vẫn là niêmd trăn trở, nhớ thương khôn nguôi trong tim Bác.

Ba hôm sau (ngày 5-8-1969), Bác lại nói với đồng chí Vũ Kỳ có vợ chồng luật sư Trịnh Đình Thảo cũng vừa từ miền Nam mới ra. Bác muốn tới thăm ông bà ấy. Ông Kỳ xin phép có ý kiến: Sức khoẻ Bác chưa được tốt, vậy nên mời ông bà ấy tới đây phải hơn. Bác lắc đầu. Theo ý Bác: Ông bà Thảo cũng đã có tuổi, vừa mới ra, cần được nghỉ ngơi. Bác cháu ta đến tận nơi mới là quý người. Rồi Bác nói thêm cho ông Kỳ rõ: Ông Thảo là một nhà tri thức lớn rất có uy tín ở cả Việt Nam. Tuy chưa phải Đảng viên nhưng ông bà đã công khai, tích cực tham gia phong trào yêu nước từ năm 1945. Ông Thảo đã bị chính quyền bù nhìn Ngô Đình Diệm bắt giam ba lần, nhưng không hề sợ hãi, vẫn một lòng hướng về cách mạng. Năm 1968 vừa qua ông đã quyết dấn thân ra mật khu của cách mạng. Trong Đại hội Quốc dân miền Nam (như Quốc hội) vừa qua, ông Trịnh Đình Thảo được bầu làm Phó Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam… Nghe Bác giới thiệu như thế, ông Kỳ hiểu ra ngay. Tuy nhiên ông cũng không khỏi thầm than: “Bác ơi, đang bệnh, đang yếu mệt vậy mà Bác vẫn chẳng nề hà bất cứ việc gì có thể làm cho sự đoàn kết và phát huy được tinh thần tất cả mọi người vì dân vì nước". Thế rồi ngày 5 tháng 8 năm 1969, đúng như mong muốn, Bác đã được đưa tới tận nơi ông bà Trương Đình Thảo đang nghỉ. Thấy Bác tới, ông bà Thảo đều hết sức ngạc nhiên, cùng chạy vội ra, chắp tay chào tỏ lòng kính trọng và hân hạnh. Bác cười rất tươi trong khi ông bà gần như vẫn vô cùng bối rối vì quá cảm kích trước sự viếng thăm:

- Ôi, thưa Bác, thật không sao ngờ Bác lại hạ cố như thế này. Vợ chồng tôi còn biết nói sao để bày tỏ niềm vinh dự và vô cùng sung sướng cũng như niềm tri ân lớn nhất của lòng mình.


 

Ngày 12 tháng 8 năm 1969. Sáng không có mưa rào nhưng vẫn lay bay và lại có gió. Các hàng cây xào xạc trong gió. Trời hơi lạnh. Thời tiết khá khác thường. Từ tối hôm trước, Bác được báo là đoàn cán bộ họp ở Pa-ri vừa về, có cả đồng chí Lê Đức Thọ, Uỷ viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương, nay đang là cố vấn tối cao của đoàn ngoại giao ta.

Bác bảo đồng chí Kỳ chuẩn bị đưa Bác lên Nhà khách của Trung ương trên Hồ Tây để gặp phái đoàn. Đồng chí Kỳ lại mạnh dạn thưa, xin Bác cho mời các đồng chí ấy về đây. Bác nói là đoàn mới về chắc còn mệt, Bác cháu ta lên đó tốt hơn, vả lại từ Hồ Tây quay về Bác còn muốn tranh thủ xem nước lũ sông Hồng thếnào. Nghe nói năm nay mênh mông lắm, dân ngoài bãi đã phải chạy hết lên đê…Bác đã chỉ thị như thế, đồng chí Kỳ chỉ còn biết vâng lời, nhưng ông đã khéo léo bí mật gọi điện cho đồng chí Lê Văn Lương thông báo Bác đi gặp đoàn đồng chí Lê Đức Thọ. Nghe đồng chí Kỳ báo cáo và xin ý kiến, cân nhắc một chút rồi đồng chí Lương trả lời: Phải tuân theo yêu cầu của Bác, nhưng cần đem theo áo ấm cho Bác. Thế là chỉ một lúc sau đồng chí Kỳ đã kiếm được một chiếc áo bông khá dày đem theo… Khi Bác và các đồng chí cùng đi đến nơi, đồng chí Lê Đức Thọ và đoàn ngoại giao đều ùa ra đón. Ai cũng ngạc nhiên trách đồng chí Kỳ sao lại để Bác ra ngoài khi thời tiết thế này. Đồng chí Kỳ phải báo cáo lại mọi chuyện. Cả đoàn ngoại giao đều vô cùng cảm động trước tấm lòng của Bác với công việc và anh em ngoại giao. Bác ngồi xuống ghế, đồng chí Kỳ cẩn thận cầm chiếc áo bông rón rén đến khoác lên vai Bác. Trước khi nghe đồng chí Lê Đức Thọ báo cáo, Bác tươi cười hỏi anh em ngoại giao mới về có chuyện gì vui bên lề hội nghị kể cho Bác nghe. Thế là không khí trong phòng khách vui vẻ hẳn lên. Anh em cán bộ ngoại giao hào hứng thay nhau kể. Theo họ, Hội nghị Pa-ri y như cuộc "chạy việt dã" của các nhà ngoại giao. Ngay việc đầu tiên là địa điểm họp ở đâu, hai bên đã liên tục thi nhau "cò cưa" rất lâu. Đầu tiên Mỹ đề ra họp ở Giơ-ne-vơ (Thuỵ Sĩ), Việt Nam đề ra phnôm Pênh (Cam-pu-chia). Mỹ lại đưa ra: Niu Đê-li (Ấn Độ), Ja-kac-ta (In-đô-nê-xi-a), hoặc Yan-gôn (Miến Điện). Hà Nội lại đề ra Vac-sa-va (Ba Lan). Mỹ tiếp tục đưa ra danh sách khác: Ka-bun (Áp-ga-nix-tan), Cô-lôm-bô (Sri Lan-ka), Tô-ky-ô (Nhật), Bru-xen (Bỉ)… Cuối cùng, sau một tháng, hai bên mới nhất trí chọn Pa-ri. Địa điểm xong lại đến hình dáng bàn họp: Vuông hay bầu dục, hay tròn. Cũng mãi sau mới thống nhất được bàn tròn. Rồi lại đến thành phần hội nghị, càng gay hơn. Mỹ yêu cầu phải có đoàn của Chính phủ Thiệu ở Sài Gòn tham gia. Tới đây có thêm chuyện vui: Đồng chí Xuân Thuỷ của ta vốn luôn luôn có nụ cười trên môi, các nhà báo quốc tế đều gọi vui là "ông Trưởng Đoàn có nụ cười thường trực". Nhưng hôm ấy nụ cười ấy như biến mất. Khi Xia-rớt Ven (Cyruc Vance) - Trưởng phái đoàn Mỹ nêu lên ý kiến phải có phái đoàn của Sài Gòn (Thiệu), đồng chí Xuân Thuỷ đã nghiêm nghị bác bỏ luôn ý kiến này. Ha-ri-men (Harriman) - Thứ trưởng ngoại giao tham gia phái đoàn Mỹ tuyên bố liền: "Nếu thế, bom sẽ lại rơi trên đầu các ông". Mặt lạnh như tiền, đồng chí Xuân Thuỷ nói như gắt lên: "Ông doạ đấy hả? Ném bom trở lại ? Chúng tôi sẵn sàng bắn gục các ông ngay". Cố vấn Lê Đức Thọ đóng vai trò mềm mại hơn: "Các ông doạ bằng chiến tranh không được đâu. Chúng ta đánh nhau mãi rồi còn lạ gì nhau? Chúng ta đã đến đây là để hoà đàm mà!". Ha-ri-men ngồi im một lúc rồi tuyên bố: "Thôi được, tôi rút lại câu nói bom sẽ lại rơi trên đầu các ông"… Mọi người cười oà. Một chuyện khác: Cũng trong một cuộc họp, Ngoại trưởng Kít-xing-gơ - cố vấn bên phía Mỹ đã phản bác lại một số điều thoả thuận đã nhất trí trong cuộc họp trước. Đến lượt đồng chí Lê Đức Thọ nói, nhưng lần này ông không mềm mại nữa mà cáu và dùng cả những từ như: "ngu xuẩn", "lật lọng"… Kít-xing-gơ đã đáp lại: "Ông cố vấn (đồng chí Lê Đức Thọ) đàm phán mà nói như mắng tôi, ít nữa nếu chúng ta có hoà bình thì ông mắng ai nhỉ? Ông có mắng cán bộ của ông như thế bao giờ không?" Cố vấn Lê Đức Thọ điềm nhiên trả lời: "Cán bộ của tôi chẳng ai quay quắt, lật lọng mà phải mắng!”. Lại cười ồ cả lên. Vui quá. Nhưng đồng chí Kỳ cho biết Bác còn muốn ra xem sông Hồng nước lụt. Đồng chí Thọ bèn xin phép Bác được bắt đầu làm việc rồi còn xin chỉ thị của Bác.

Hơn một giờ nghe báo cáo xong, trước khi ra về, Bác khen ngợi các đồng chí trong phái đoàn đã "chiến đấu rất tốt, rồi Bác căn dặn thêm và nhấn mạnh về tính chiến lược hiện nay của công tác ngoại giao cần phải có nhiều sáng tạo hơn nữa cũng như kiên trì hơn nữa, lúc cương lúc nhu… để làm cho công tác ngoại giao thắng lợi. Đây cũng là một mặt trận góp phần không nhỏ vào chiến thắng chung. Mỹ rõ ràng đang ngả dần sang thế yếu, bị động, ta càng phải đẩy mạnh ngoại giao để hỗ trợ. Đó chính là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các phương thức đấu tranh để giành lấy toàn thắng.

Rồi đúng như ý muốn của Bác, khi ra về, xe rẽ tới một chỗ sát bên đê không xa đầu cầu Long Biên để Bác lên coi tình hình sông nước. Đồng chí Kỳ luôn đi sát để đỡ Bác leo lên đê. Ông cứ cuống lên, hết đỡ sau lưng lại như xốc nách, rồi chỉ còn thiếu cõng Bác lên lưng. Nhưng Bác luôn luôn gạt lại và cố gắng một mình leo lên đê từng bước một. Mưa đã tạnh, nhưng gió vẫn thổi dào dạt khá mạnh. Ông Kỳ lo thắt ruột, vẫn bám sát, hai tay vẫn luôn để hờ sau lưng Bác.

Bác đã lên tới mặt đê. Bác đứng đó, hai bàn tay úp lên nhau đặt trên đốc chiếc can cắm thẳng trước mặt. Bác lặng ngắm nhìn dòng sông lũ đỏ nặng phù sa đang cuồn cuộn chảy xiết. Ngập lụt mênh mang như biển. Bờ bên kia xa tít chỉ còn là những vệt cây xanh úa kéo dài mờ mờ sau khói sóng. Gió kéo dài hun hút. Bác vẫn đứng đó, lúc trông dân bãi chạy lụt nhếch nhác trên đê, lúc ngước nhìn lên bầu trời vẫn đầy mây xám, lúc lại đăm đăm trông ra dòng sông lũ như vẫn đang như điên cuồng phô diễn tất cả sức mạnh tàn bạo, hung dữ của mình. Đôi mắt Bác vốn đã rất sáng, lúc này càng như sáng ngời lên với những suy tư đang tràn ngập và cả bao niềm thương đau vò xé. Tuy nhiên trong đôi mắt sáng láng đến kỳ lạ ấy như đang tràn ngập cả sức mạnh của tinh thần sáng suốt cùng lòng quả cảm vô song… Đồng chí Kỳ và các cán bộ đi theo chăm chú ngắm nhìn Bác, bỗng như cùng có cảm tưởng Bác không phải chỉ đang đau lòng trước cảnh lụt lội lầm than cụ thể ở nơi đây, mà còn như đang đầy tâm trạng lặng nhìn cả đất nước, cả giang sơn này đang còn phải chịu đựng biết bao gian nan để rồi mới có thể đi tới ngày toàn thắng.

Rồi Bác lại chậm rãi bước đi, không chịu cho ai dìu đỡ. Tự mình xắn quần, với chiếc can, Bác đi dọc trên bề mặt đê lầy lội để tới thăm một số gia đình chạy lụt. Bác luôn luôn dừng trước những túp lều làm tạm rách rưới, xiêu vẹo. Bác thăm hỏi và an ủi các cụ già, vỗ về các trẻ nhỏ. Bác đến gặp cả một số thanh niên, trong đó có cả bộ đội phục viên. Họ đang liên tục bơi tay vo, hoặc chống, đẩy những chiếc bè làm bằng nứa ghép, hoặc các phản gỗ tháo ra, hoặc chỉ là các thân chuối buộc lại. Với những chiếc bè "ứng dụng" ấy họ lao ra các xóm ngoài bãi đã chìm ngập để mò vớt những gì còn có thể vớt, từ chiếc nồi nhôm méo mó cho tới những chiếc bu gà, dù gà đã chết cả trong bu vì không kịp chạy. Hầu hết mình trần, đầu óc rũ ruợi nước mưa, nước sông, mệt lử lả, họ từ các bè trở lại lên đê. Bác chủ động tới gặp họ hỏi thăm và động viên. Hết sức bất ngờ và sửng sốt, họ chỉ còn biết gần như khóc lên vì qua xúc động “Ôi, cha già!”. Tuy nhiên, gió lại như mạnh lên, mưa cũng lại lay bay vài hạt. Ông Kỳ và những người đi theo Bác cùng vội xin Bác quay trở về. Biết là không thể cưỡng lại mãi ý kiến của những người bảo vệ và phục vụ mình, Bác lại chóng can tự mình trở xuống chân đê.

Từ lúc lên xe, Bác gần như hoàn toàn im lặng. Chỉ có một lần, Bác quay lại khẽ hỏi đồng chí Kỳ, mà có lẽ như muốn tự hỏi chính mình: "Bao giờ thì ta có thể chống lại được lũ lụt? Bao giờ có thể làm cho nhân dân ta hết khổ?".

                                         

Buổi chiều hôm đó, trên nhà sàn, Bác vẫn làm việc như thường lệ, nhưng đồng chí Kỳ thấy sắc thái Bác có vẻ kém đi, vẻ mệt nhọc cũng rõ hơn và như ẩn dấu cả một nỗi đau buồn nào đó trong ánh mắt. Phải chăng quang cảnh lụt lội ngoài sông, bãi vẫn còn ám ảnh Bác mãi chưa nguôi và rất có thể cả những cơn gió lạnh tệ hại kia ít ra cũng đã có thể làm Bác khó chịu.

Rồi bỗng, đang ngồi ở nhà dưới, ông Kỳ thấy có tiếng ho. Gần như giật mình, ông chăm chú nghe, Ông đã nghe ra ngay đó là tiếng ho của Bác. Lại nghe mấy tiếng ho tiếp. Rồi cứ thế chốc chốc lại thấy tiếng ho liền, mà ho khá mệt. Không thể kiên trì được nữa, đồng chí Kỳ vội chạy lên nhà sàn. Bác nhìn ra, khẽ hỏi:

- Chú lên làm gì đấy?

- Thưa Bác… Thưa Bác…

Miệng đáp chưa hết câu, ông Kỳ đã bước vội vào phòng, lấy một cốc nước ấm đưa tới mời Bác chiêu cho dịu họng và hỏi Bác liệu cần thuốc không để gọi bác sĩ… Bác cảm ơn và bảo Bác chỉ ho qua loa, khỏi phiền anh em. Và Bác giục đồng chí Kỳ xuống nhà.

Vâng lời, ông Kỳ trở xuống. Nhưng từ lúc đó cho tới gần hết buổi chiều, ông không sao ngồi yên được nữa, Bác vẫn chốc chốc lại khúc khắc ho, thậm chí có lúc Bác ho khá dài. Với sự nhạy cảm của mình, không thể chờ xin ý kiến Bác nữa, ông Kỳ gọi điện ngay cho bác sĩ Nhữ Thế Bảo (Chủ nhiệm khoa Tim mạch Viện 108 và đang là Tổ trưởng Tổ Y tế đặc trách trông nom sức khoẻ cho Bác).

Chỉ khoảng gần một giờ sau, bác sĩ Nhữ Thế Bảo cùng bác sĩ Lê Ngọc Mẫn đã đạp xe hộc tốc tới. Cả hai ông Bảo và Mẫn chỉ kịp ném xe vào gốc cây, chạy bổ lên nhà sàn và thực hiện ngay mọi thăm khám hết sức tỉ mỉ. Cuối cùng cả hai bác sĩ đều kết luận: Không hoặc chưa có triệu chứng gì khác lạ, trước mắt chỉ thấy Bác bị viêm phế quản dẫn đến ho do bị cảm lạnh. Ông Kỳ thầm "Nam mô A Di Đà phật", cầu mong mọi sự đúng là nhẹ nhàng như thế.

Sau khi đưa thuốc và tận mắt thấy Bác uống xong, hai bác sĩ mới xin phép Bác ra về. Trời bắt đầu tối.

Khoảng 21 giờ, thấy trên sàn nhà vẫn còn sáng đèn, dù các bác sĩ đã yêu cầu Bác cần ngủ sớm, ông Kỳ lại leo nhanh hai bậc thang một lên nhà. Quả nhiên Bác vẫn thức, không những thế lại đang ngồi trước bàn làm việc như thường lệ tuy vẫn khúc khắc ho. Ông Kỳ lại đem một cốc nước nóng tới đưa cho Bác và bỗng nhiên nhìn thấy gương mặt Bác thoáng như có vẻ đang bừng bừng. Ông Kỳ không kịp xin phép, đặt nhanh bàn tay mình lên bàn tay Bác. Và giật mình, ông Kỳ muốn bật thốt lên: Ôi, Bác sốt rồi! Thật vậy, bàn tay Bác khá nóng. Ông Kỳ vội xin phép Bác cho được tạm đo nhiệt độ bằng chiếc máy đo cá nhân vẫn luôn luôn để sẵn trên nhà. Chỉ mấy phút sau, gỡ bao quấn tay Bác ra, nhìn lại đồng hồ đo lần nữa cho khỏi nhầm: Chưa phải là cao lắm, nhưng đúng là Bác đang sốt, dù là sốt nhẹ. Lần này thì ông Kỳ không giám nhân nhượng nữa. Ông nhất quyết đề nghị Bác phải uống tiếp thuốc của bác sĩ Bảo để lại, rồi đi nằm nghỉ. Nhìn ông Kỳ, Bác cười, nhưng có lẽ cũng không muốn làm cho người thư ký hết mức tin yêu này quá lo lắng, Bác thu tài liệu lại, uống thuốc, rồi thong thả sang phòng ngủ của mình. Bấy giờ ông Kỳ mới trở xuống nhà, lặng lẽ quay máy lại gọi bác sĩ Bảo.

image.png

Ảnh: Vũ Kỳ – “Chú tiểu đồng” của Bác Hồ

Sáng hôm sau, không phải chỉ có bác sĩ Bảo mà cả Hội đồng bác sĩ y khoa chuyên lo sức khỏe cho Trung ương do chính bác sĩ Bảo phụ trách đã có mặt ở nhà sàn từ khá sớm với đầy đủ thuốc men và các máy móc y tế cần thiết. Đêm qua, Bác đã gần như ho suốt. Rồi cả đồng chí Trường Chinh, đồng chí Sao đỏ (Nguyễn Lương Bằng) cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đến. Bác không khỏi cảm động:

- Các chú đến sớm vậy? Mà sao đông thế? Bác chỉ sơ sơ thôi mà. Các chú chớ có quá bận tâm.

Các bác sĩ xin được thăm khám cho Bác ngay. Tất cả mọi người đều im lặng chăm chú theo dõi mọi hoạt động của Hội đồng bác sĩ. Không khí trong căn phòng ngủ của Bác trên nhà sàn tuy chưa phải quá nghiêm trọng nhưng cũng đã có phần chẳng bình thường. Người muốn giải toả không khí ấy không phải ai khác lại chính là Bác. Tranh thủ giữa các việc làm điện tim, đo mạch, kiểm tra huyết áp… Bác thường mỉm cười và hỏi chuyện mọi người, rất ân cần.

Sau một hồi khám và xét nghiệm, Hội đồng bác sĩ y khoa đã đi tới kết luận ban đầu: Bác bị viêm phế quản trên nền viêm phế quản mãn tính nên sốt cao và bạch cầu tăng.Hội đồng quyết định dùng thuốc kháng sinh Tatopen (giống như Ampicilin) của Pháp để điều trị cho Bác.

Tất cả mọi người đều như thầm thở, trút ra được một chút lo lắng. Gương mặt các đồng chí Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng, Võ Nguyên Giáp bớt căng thẳng. Các đồng chí đều bắt tay các bác sĩ rất chặt - những cái bắt tay gửi gắm rất sâu nặng. Tất cả mọi cán bộ, nhân viên khác cùng có mặt trong thời khắc căng thẳng vừa qua, trước khi ra về đều chúc Bác mau bình phục cho con cháu được nhờ, cho Tổ quốc được mau thống nhất, cho đất nước sớm được yên bình, và hết lời đề nghị các bác sĩ gắng trông nom Bác…

Tuy nhiên, mấy ngày sau đó huyết áp Bác vẫn chưa được thật ổn định, khi lên khi xuống thất thường. Bộ Chính trị đã lại phải hội ý. Một quyết định đã được đưa ra theo đề nghị của các bác sĩ: Mời Bác xuống ở căn nhà mới xây năm 1967 khi Bác đi Trung Quốc. Ngôi nhà nhỏ phía sau nhà sàn rất kiên cố, có thể chống bom. Nếu Bác chịu xuống ở căn nhà mới xây mang ký hiệu H67 ấy Bác sẽ không phải leo cầu thang vất vả và khó khăn nữa. Bác trầm ngâm một chúi rồi đáp: Các đồng chí Bộ Chính trị đã có ý kiến, Bác chấp hành. Thế là lần đầu tiên Bác đã phải xa ngôi nhà thân yêu mà Bác đã ở đó gần tròn 15 năm với niềm vui và hạnh phúc là được cống hiến và hy sinh cả đời mình cho cách mạng, cho nhân dân, cho Tổ quốc. Khi các đồng chí Bộ Chính trị cùng đồng chí Kỳ đỡ Bác xuống hết cầu thang, Bác không khỏi ngoái nhìn lại ngôi nhà sàn với cặp mắt thật xa vắng.

Cũng vẫn thật đặc biệt: Xuống nhà H67, không chịu hoàn toàn nằm nghỉ, Bác vẫn làm việc. Tất nhiên Bác nói: "Nhẹ nhàng thôi mà". Bác còn cười, nói thêm: "Bác nằm suốt ngày sẽ càng ốm to!".

- Ngày 18 tháng 8 năm 1969, Bác đã ký Sắc lệnh số 123-LTC bổ nhiệm đồng chí Đỗ Mười giữ chức Phó Thủ tướng kiêm Chủ tịch Văn phòng Phủ Thủ tướng.

- Ngày 21 tháng 8 năm 1969 Người đã ký 2 sắc lệnh: Lệnh số 124-LCT thưởng hai Huân chương Chiến công hạng Nhì cho hai chuyên gia Liên Xô: Pa-ven Nô-xô-ca-ri-ốp và Bô-rít Xu-mi-ri-côp đã có công giúp nhân dân ta trong kháng chiến chống Mỹ. Lệnh số 125-LTC công bố tha cho những phạm nhân cải tạo tốt và giảm hạn tù cho những phạm nhân thật thà và cố gắng sửa chữa khuyết điểm trong thời kỳ ở trại.

- Ngày 22 tháng 8 năm 1969, Bác ký Điện chào mừng gửi các đại biểu dự "Cuộc gặp gỡ thế giới của Thanh niên và sinh viên vì sự thắng lợi cuối cùng của nhân dân Việt Nam", họp ở Hen-xin-ki (Phần Lan).

- Ngày 23 tháng 8 năm 1969, Bác Hồ thưởng huy hiệu của Người cho 7 thiếu niên dũng cảm, thật thà nhặt được của rơi đem trả người đánh mất, dũng cảm lao xuống sông (trong đó có cháu bé nhất là 7 tuổi) cứu người bị nạn.

- Cũng trong ngày 23 tháng 8 năm 1969, Bác trao huy hiệu của Người cho Bộ Quốc phòng để thưởng cho các phi công ta bắn rơi máy bay Mỹ và cứu dân khỏi nước lụt.

Ai ai cũng hiểu tất cả những việc đó không phải chỉ là sự sáng suốt và sức làm việc phi thường của Bác, mà trước hết là tinh thần, ý chí, cùng tấm lòng bao la vô cùng của Bác.

Nhưng rồi sự lo xa của tập thể lãnh đạo đã không phải là quá đáng bởi sau đó bệnh của Bác lại bột phát. Tối 24 tháng 8 năm 1969, Bác đang nằm nghỉ, khoảng 20 giờ 30, ông Kỳ vẫn còn đang ngồi ở ngoài nhà cho mát bỗng nghe Bác thở khá mạnh và gấp. Gần như giật bắn người, ông lao vào nhà. Trên giường, Bác đang nằm tay ôm lấy ngực day day, xoa xoa. Cố nén mọi tiếng kêu sợ hãi, ông Kỳ vồ lấy chiếc máy nói thường trực lại gọi gấp bác sĩ Nhữ Thế Bảo.

Rất nhanh, chỉ một lúc sau không phải chỉ có ông Bảo mà cả Hội đồng y khoa đã có mặt đầy đủ cùng máy… Cũng liền ngay sau đó là các đồng chí: Nguyễn Lương Bằng, Lê Văn Lương , Võ Nguyên Giáp, Song Hào…

Các bác sĩ lại ai vào việc ấy. Người khám sơ bộ lâm sàng cho Bác, người bắt đầu mở các máy y tế chuyên dụng… Không khí hết sức khẩn trương.

Một lúc sau, rời máy quay ra, bác sĩ Tổ trưởng Nhữ Thế Bảo cất tiếng nói chỉ vừa đủ nghe, nhưng thật sự quan trọng:

- Thưa các đồng chí, Bác bị nhồi máu cơ tim thành sau.

Ông Kỳ và tất cả các đồng chí lãnh đạo thoắt như choáng, lặng đi. Tuy nhiên bác sĩ Bảo đã cố gắng nói tiếp:

- Báo cáo các đồng chí, nhưng dẫu sao cũng còn có hy vọng cấp cứu. Chúng tôi sẽ cố hết sức mình.

Một hồi sau, đúng như lời bác sĩ Nhữ Thế Bảo, Bác đã dần dần hồi tỉnh, rồi mở mắt ra. Như để đáp lại những lời thăm hỏi của mọi người, Bác cố gắng giữ vẻ bình thường, nhưng gương mặt xanh xao và hơi thở còn khá mệt nhọc.

…Một chiếc xe com măng ca phóng khá nhanh trên con đường Trần Hưng Đạo, hướng tới Viện Quân y 108 ở bên bờ sông Hồng. Trên xe là đồng chí Phó Tổng Tham mưu trưởng Phùng Thế Tài và đồng chí Cục trưởng Cục Bảo vệ Trần Kinh Chi. Cả hai cùng ngồi im lặng, nhưng đều đang nghĩ tới tất cả mọi việc đã và đang triển khai rất khẩn trương do tình hình sức khoẻ của Bác. Tối 24 vừa qua là một tối đáng gọi là lo sợ cho tất cả mọi người. Dù Bác đã qua khỏi đêm nguy kịch nhưng mọi bất trắc vẫn còn nguyên. Cho nên việc thứ nhất là ngay trong đêm, Trung ương Đảng ta đã phải điện gấp sang Bắc Kinh đề nghị cử thêm một số chuyên gia y tế giỏi sang ngay, tham gia vào việc chữa bệnh cho Bác. Việc thứ hai là Văn phòng Phủ Thủ tướng cũng được lệnh điện gấp cho ông Vương Quốc Mỹ (Bộ Kiến trúc) đang công tác ở Liên Xô đề nghị Bạn cử ngay các chuyên gia y tế và dụng cụ cần thiết phục vụ cho nhiệm vụ hiữ gìn thi hài Bác khi qua đời sang ta. Một việc lớn nữa là được sự đồng ý của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương đã quyết định thành lập một ban chỉ đạo (của Quân uỷ) để chỉ đạo kịp thời và cụ thể mọi công tác chăm sóc sức khoẻ Bác cũng như việc tổ chức lễ tang và lưu giữ thi hài Bác. Ban Chỉ đạo gồm: Đồng chí Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng làm Trưởng ban; đồng chí Phùng Thế Tài làm Phó ban; đồng chí Trần Kinh Chi, Uỷ viên hường trực, cùng hai uỷ viên nữa là bác sĩ Vũ Văn Cẩn, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần kiêm Cục trưởng Quân y và đồng chí Phạm Ngọc Mậu, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

Ban chỉ đạo đã họp. Mọi người cùng lo buồn, cùng chung một cảm tưởng: Thời điểm nghiệt ngã nhất xem ra đang đến gần. Ban Chỉ đạo đã quyết định: Việc trước tiên là phải kiểm tra lại toàn bộ mọi khâu công tác đã chuẩn bị cho "đại sự” nhất là hai cơ sở quan trọng 75A và 75B. Trước đây, ông Tài và cả ông Kinh Chi vẫn đều đặn lui tới đây đôn đốc, nhưng hôm nay thay mặt Ban Chỉ đạo, hai ông phải kiểm tra một lần nữa, để rồi các đồng chí: Nguyễn Lương Bằng, Lê Văn Lương sẽ lới kiểm tra lần chót.

Bỏ xe lại ở bãi trước khu nhà chính của Viện Quân y 108, hai ông cùng đi bộ vào và như mọi khi lại lấy dáng vẻ bình thường như tất cả mọi người đến khám bệnh hoặc thăm người ốm. Một số cán bộ quân đội nhận ra hai ông, giơ tay chào... Cũng lại như mọi lần, hai ông lại phải tách ra, mỗi người đi một ngả khác nhau. Lát sau hai người lặng lẽ đi sâu vào khu vực cuối bệnh viện nơi rất ít người qua lại. Tới khu vực này hai ông cùng nhanh chóng bước vào một ngôi nhà một tầng nằm hẻo lánh sát phía sau nhà tang lễ của bệnh viện. Ngôi nhà này vốn từ lâu là Khoa Giải phẫu bệnh lý. Nơi đây đã được Quân uỷ phê duyệt cải tạo thành công trình 75A.

Bữa nay hai ông lại tới đây, vừa bước vào phòng chờ - cũng là phòng tạm nghỉ của các bác sĩ đã thấy bác sĩ Nguyễn Gia Quyền với cái đầu hói khá đẹp cùng dáng người đậm với gương mặt trung hậu của bác sĩ Lê Điều. Ông Quyền là Tổ trưởng ở đây, nhưng vẫn là Chủ nhiệm Khoa Giải phẫu bệnh lý của Viện 108 nên luôn luôn bận. Ông Điều có nhiệm vụ quản lý toàn bộ vật tư trong Tổ, ngoài ra còn thường xuyên hướng dẫn, truyền đạt lại các kỹ thuật và kinh nghiệm bảo quản thi hài đã học được ở Liên Xô cho anh em mới. Học ngay ở 75A và ứng dụng luôn trong các thực nghiệm ở Viện Quân y 108, do đó trình độ của anh em tiến bộ rõ rệt. Hôm nay cả hai ông Quyền và Điều đang làm việc với các bác sỹ, y tá mới được bổ sung vào Tổ Y tế đặc biệt: Bác sĩ Nguyễn Văn Châu, bác sĩ Sái Thế, y sĩ Nguyễn Trung Hát và y công Phạm Ngọc Ảm. Thấy hai ông Tài và Kinh Chi tới, mọi người đều giật mình. Và gần như có chung cảm tưởng có lẽ nỗi bất hạnh rất lớn của dân tộc đã tới!

- Báo cáo các anh, chúng tôi sốt ruột quá đang tự kiểm tra toàn bộ thêm lần nữa, xem máy móc… để ngộ nhỡ… có gì… Bác sĩ Nguyễn Gia Quyền báo cáo.

Ông Tài tỏ vẻ hài lòng:

- Vậy ổn cả chứ, bác sĩ?

- Báo cáo các anh, hoàn toàn ổn định. Các thông số kỹ thuật vẫn rất tốt. Mời các anh vào phòng kỹ thuật chính. Chúng tôi cho chạy lại các máy lần nữa để các anh trực tiếp kiểm tra lại.

Ông Tài gật đầu, cùng ông Kinh Chi thay áo quần y tế, giày dép, rồi bước vào căn phòng đặc biệt. Đây là nơi đầu tiên sẽ đưa thi hài Bác tới làm các động tác y tế ban đầu nhưng rất quan trọng trước khi chuyển Bác ra Ba Đình làm lễ viếng và Lễ Quốc tang.

Một căn phòng rất sáng. Máy móc được mở lại: Nhiệt độ đúng là 16 độ C, chênh lệch co dãn chỉ trên hoặc dưới 0,2 độ C và độ ẩm là 75%. Không khí đã được vô trùng tuyệt đối. Tất cả đúng với yêu cầu kỹ thuật. Cẩn thận, ông Tài yêu cầu anh em xoá đi làm lại lần nữa. Lần thứ hai vẫn y như thế, ông Tài và ông Kinh Chi hết sức hài lòng, chỉ còn biết quay lại bắt tay thật chặt hai ông Quyền và Điều cùng anh em bác sĩ, y sĩ. Là người “ngoại đạo”, nhưng ông Tài và cả ông Kinh Chi đã được các nhà khoa học và các bác sĩ cho biết: Trong những công trình như thế này, môi trường với nhiệt độ, độ ẩm và quy trình thông gió là quan trọng hàng đầu. Tất nhiên thuốc cũng rất quan trọng mà chủ yếu là dung dịch đặc biệt để lưu giữ thi hài. Dung dịch này chỉ Liên Xô mới có, đó một bí mật quốc gia của Bạn. (Tất nhiên trong y học cũng có nói, có viết, thậm chí có dạy qua về dung dịch này, nhưng chưa ở đâu đã có thực tế qua thực hành như Liên Xô, do đó trừ Liên Xô trên thế giới này chưa ai sản xuất được). Vậy mà, mặc dù bước đầu mới học được ở Bạn ít nhiều và khi về được bạn cho một số máy móc tối thiểu, với trí thông minh và truyền thống linh hoạt, sáng tạo, các bác sĩ ta cũng đã tạo nên được một căn phòng đặc biệt đúng với yêu cầu cao của khoa học và đã mấy lần thực nghiệm đều cho kết quả tốt.

Dù đã có tiếng là một võ tướng rất cứng rắn, nhưng hôm nay ông Tài không thể không cảm động nhớ lại tất cả những vất vả, khó khăn ban đầu mà các cán bộ, chiến sỹ công binh phải trải qua. Ấy là lúc một kỹ sư thiết kế các công trình quốc phòng của Binh Chủng Công binh là đồng chí Nguyễn Trọng Quyển đang công tác ở Bắc Kạn nhận được điện gọi, đã tức tốc trở về ngay. Hồi đó làm gì có ô tô, xe máy nhiều như bây giờ. Ông Quyển phải guồng chiếc xe đạp cà tàng suốt 200 cây số về Hà Nội. Và ngay sau đó một tổ cán bộ đã hình thành, gồm: Nguyễn Trọng Quyển - Tổ trưởng, cùng các thành viên: Bùi Danh Chiêu - một trong 3 kỹ sư hiếm hoi về thông gió của Việt Nam thời đó và các kỹ sư Nguyễn Lam Sinh, Phạm Hoàng Vân, Hoàng Quang Bá. Tổ vừa thành lập xong đã bắt tay ngay vào việc theo phương châm vừa thiết kế vừa xây dựng. Lực lượng thi công là Tiểu đoàn 2 Công binh do đồng chí Trần Sĩ Yêm chỉ huy - cũng là một đơn vị giỏi.

Tổ kỹ thuật cùng anh em Tiểu đoàn 2 đã mau chóng nhận thức được trách nhiệm rất quan trọng sẽ phải hoàn thành, bởi đây là một công trình đặc biệt và rất phức tạp. Về chuyên môn đã khó, nay còn khó khăn do điều kiện khách quan mang lại: Qua mấy năm chiến tranh phá hoại, một số cơ sở điện, nước đã bị địch đánh phá nặng, không thể bảo đảm 24/24 giờ cho anh em thi công. Các cơ quan Trung ương lại sơ tán nhiều, việc liên hệ về giấy tờ, vật chất… rất vất vả, khó khăn. Địa điểm thi công lại là một khu vực nhỏ ở cuối bệnh viện khá chật hẹp, phải chia ca, kíp và phải làm việc cả ngày đêm... Nhưng tất cả các sĩ quan và chiến sĩ Tiểu đoàn 2 Công binh đã lao động hết mình, làm tới đâu được nghiệm thu tới đó. Tóm lại khâu xây dựng là rất tốt. Tuy nhiên khi đi vào lắp đặt máy móc thiết bị rồi vận hành thử mới phát sinh ra nhiều khó khăn khác, trong đó có một khó khăn vào loại cam go nhất, quan trọng nhất, tưởng như không sao khắc phục được: Đó là chiếc máy điều hoà nhiệt độ to đùng của Liên Xô tặng đoàn ông Gia Quyền mang từ Mát-xcơ-va về nay lắp vào, điều chỉnh thế nào nó cũng vẫn chỉ là 37 độ C. Lạ thế! Không những vậy, nó còn kêu rất to và rung khá mạnh. Lo quá. Sửa, chỉnh sao cũng không được. Hôm ấy ông Tài cũng có mặt ở đây. Nghĩ đã nát óc mà vẫn chưa tìm ra cách khắc phục, ông không khỏi thầm lo. Một người trong đám đông anh em công binh bỗng bật lên đề nghị: Lên An toàn khu của Trung ương mượn một bộ điều hoà nhiệt độ của Nhật - đem về đây xem sao, rồi tính sau…. Ông Tài chấp nhận ngay. Và chỉ ngay đêm hôm đó, máy đã được bật lên trong sự hồi hộp lớn của mọi người. Rồi tất cả cùng oà lên, nhảy cả lên vì mừng, vì sung sướng… Mọi thông số đều đúng với yêu cầu, dù thử đi thử lại tới mấy lần. Máy lại nhẹ, chạy rất êm và không hề rung…

Tuy nhiên, vẫn chưa phải đã hết sự cố. Khắc phục được chuyện máy điều hoà nhiệt độ xong thì ở buồng trung tâm nơi sẽ đặt thi hài Bác lại xuất hiện trục trặc khác. Sau khi máy điều hoà ngưng làm việc, anh em cán bộ, chiến sĩ nhận ra có hiện tượng đọng sương trên trần nhà. Sương ẩm dễ tạo điều kiện cho vi khuẩn, vi nấm phát triển, mà phòng này lại đòi hỏi phải được vô trùng tuyệt đối. Lại “đau đầu” đây. Các chiến sĩ công binh đã dùng sơn chống khô (Bê-ki-lit) phết lên và dùng cả giẻ để thấm khô, nhưng cũng không ăn thua, hiện tượng đọng sương vẫn xảy ra. Tuy nhiên, người Việt Nam ta vốn thông minh, linh hoạt, nên anh em đã nghĩ ra được một kế khác: Dùng gỗ lát toàn bộ trần nhà, kết hợp với tăng cường quạt gió để thông hơi. Hì hục làm một ngày. Và lại thử để quan sát. Lại hồi hộp theo dõi gần suốt buổi. Thế rồi anh em ôm lấy nhau nhảy múa. Hiện tượng đọng sương đã hoàn toàn biến mất.

Thế đấy, hôm nay lại tới kiểm tra, ông Tài và cả ông Kinh Chi cùng nghe anh em vui vẻ nhắc tới câu chuyện thót tim về chiếc máy điều hoà kêu to, rung mạnh và hiện tượng đọng sương bữa nọ. Vui thì vui thật, nhưng hôm nay biết Bác vẫn đang rất mệt, hai ông đều không có thể cười được nữa. Trước khi quay về, ông Tài nhìn cả Tổ Y tế đặc biệt hỏi:

- Sao mắt mũi như sưng cả lên thế kia?

Bác sĩ Gia Quyền đáp:

- Báo cáo, suốt đêm qua anh em đều xin trực hết vì… có báo động.

Ông Tài không dám hé lộ trước mặt anh em là riêng ông đã được cho biết qua điện  thoại là trong đêm qua Bác đã có lúc phải thở bằng oxy. Ông động viên anh em:

- Thôi được, nhưng hôm nay nên phân công nhau trực và ngủ bù đi! Công việc… chưa hết đâu ?

Mọi người cùng gật đầu cảm ơn thủ trưởng.

Và ngay chiều hôm ấy, hai ông Tài và Kinh Chi đi tiếp lên Hội trường Ba Đình để kiểm tra cơ sở 75B.

Cơ sở 75B quàn thi hài Bác trong những ngày lễ lang, do đó nhỏ bé hơn 75A nhiều, chỉ có hòm kính đặt thi hài Bác trên, còn máy móc tất cả để dưới gầm. Tuy vậy, ở đây lại hết sức khó khăn về mặt kỹ thuật. Trước hết, Hội trường Ba Đình ở ngay sát đường, người qua lại rất nhiều, nên mặt bằng thi công đã chật chội lại phải làm toàn vào ban đêm để giữ bí mật, nên không khỏi vất vả, thêm nữa vì Hội trường khi làm lễ tang sẽ có rất đông người ra vào, lại còn quay phim chụp ảnh nên nhiệt độ và độ ẩm ở đây sẽ phức tạp, khó ổn định hơn 75A. Nhưng trong nhiều khó khăn, thì khó khăn lớn nhất và chủ yếu ở đây lại là chiếc hòm kính để thi hài Bác. Bàn đã làm được rất tốt, rất đẹp do xưởng mộc ở An Dương làm, khung kính cũng do Xí nghiệp 49 Công binh làm bằng thép mạ kền sáng loáng. Bàn, khung đã có đủ nhưng chưa có kính? Chưa tìm ra được những tấm kính khổ lớn, mà phải là loại kính không vỡ, dày, trong suốt, không có gợn sóng, lại còn phải khắc phục được hiện tương đọng hơi nước ngưng tụ ở mặt kính khi chạy máy điều hoà nhiệt độ. Các đồng chí ở trên đã gửi yêu cầu sang Liên Xô đề nghị giúp, đồng thời yêu cầu ông Vương Quốc Mỹ đang ở bên đó cố xin thêm được vật tư, nhất là kính đặc biệt. Nhưng cho tới giờ vẫn hoàn toàn bặt tin. Vậy biết làm thế nào bây giờ? Nhưng may làm sao, sau một thời gian tìm kiếm khắp nơi không đâu có, đã gần như tuyệt vọng thì có ông Thiện, Vụ phó Vụ Quản trị Phủ Thủ tướng cho biết: Ta đã từng nhập kính như vậy để phục vụ cho một số công trình nào đó, có thể chính hội trường này, hình như chưa dùng hết. Thế là được lệnh của ông Khanh, Phó Văn phòng Thủ tướng, anh em công binh nhào ngay xuống hầm hội trưởng tìm kiếm. Một lúc sau bỗng nghe reo lên: "Đây rồi. Có lẽ đây rồi!”. Sau đó mấy anh em lễ mễ khiêng từ một xó tối cuối hầm ra một kiện kính ngoại rất lớn còn nguyên xi chưa dỡ ra, bụi bám đầy.Mở ra, mừng không sao tả được, ông Trọng Quyển phụ trách thi công phân công ngay: Kỹ sư Lam Sinh vẽ thiết kế và kỹ sư Ngô Vĩnh phụ trách gia công. Thế là hòm kính đã hoàn thành. Nhưng rồi khó khăn lại xảy ra, ở đây cũng có hiện tượng đọng sương trên hòm kính. Tuy nhiên đã có kinh nghiệm ở 75A, việc giải quyết đọng sương ở đây cũng sớm được khắc phục. Hai cơ sở đặc biệt ấy đều đã được hoàn thành tốt và trong thời gian ngắn. Ông Tài thay mặt Bộ Tổng Tham mưu khen ngợi anh em Tiểu đoàn 2 của Trung đoàn 259 Công binh luôn cần cù, sáng tạo và cả ý thức chính trị tốt của "những người lính thợ cách mạng".

image.png

Buổi chiều hôm đó, đi kiểm tra lại lần cuối, hai ông Tài và Kinh Chi tới Hội trường Ba Đình, lên ngay sân khấu xem lại tỉ mỉ hòm kính, hai ông đã thấy quả là quá đẹp và thông số kỹ thuật rất chuẩn. Sau khi xem xét lại hòm kính rồi xuống gầm sân khấu xem lại cả hệ thống máy móc lần cuối, hai ông mới ra về.

Trên xe, hai ông đã có thể cùng nhau trao đổi ý kiến về những việc khác và cả Lễ Quốc tang. Việt Nam ta chưa có kinh nghiệm tổ chức Lễ Quốc tang lớn bao giờ, nhất là Lễ Quốc tang lãnh tụ tối cao, nên không khỏi lo lắng. Quốc tang, tất nhiên nhiều Bộ, nhiều cơ quan, nhiều đoàn thể sẽ cùng gánh vác. Về phía Bộ Quốc phòng mà Bộ Tổng Tham mưu là đại diện chủ yếu đã được Bộ Chính trị phân công công việc: Bảo đảm an ninh tuyệt đối trong hội trường, làm thật tốt nhiệm vụ tiêu binh danh dự đúng với mọi quy cách quốc gia và quốc tế trong Quốc tang lãnh tụ và nguyên thủ quốc gia. Nhưng công việc quan trọng và khó khăn nhất là chuyển thi hài Bác từ Phủ Chủ tịch tới 75A để các bác sĩ, chuyên gia làm các công việc y tế, sau đó đưa tiếp thi hài Bác từ 75A tới Hội trường Ba Đình để làm Lễ Quốc tang. Tiếp đó lại đón Bác trở về 75A. Ông Tài lại nghĩ ngay tới Lữ đoàn 144 Bộ Tổng Tham mưu, Lữ đoàn đã từng gánh vác biết bao việc lớn nhỏ của Bộ Quốc phòng và Nhà nước. Ông sẽ lệnh cho Lữ đoàn trưởng Vũ Ngạch phải tổ chức ngay các bộ phận chuyên trách và lên các kế hoạch tập luyện ngày, đêm, may ra mới kịp với tình hình và nhiệm vụ.Mới tạm nghĩ tới đó ông Tài đã thấy quá nhiều việc mà việc nào cũng phải mười phần nỗ lực cả.

Phố phường Hà Nội về chiều hết giờ làm việc, đã trở nên nhộn nhịp, vui hơn so với thời sơ tán (Mỹ đã phải chịu ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra) Nhưng đã mấy ai biết Hà Nội vẫn còn có những con người, những đơn vị, những tổ chức đang rất âm thầm, kể cả vô cùng đau đớn, bí mật, ráo riết, căng thẳng chuẩn bị cho những ngày buồn thương ch­ưa từng có của dân tộc, đất nước, mà sự kiện này hầu như chắc chắn sẽ khó lòng tránh khỏi.

Nếu như tạm coi ngày 12 tháng 5 năm 1969 Bác lên Hồ Tây gặp một số cán bộ của phái đoàn ngoại giao rồi thăm dân ngoài đê sông Hồng bị nước lũ, trở về, Bác ho và bắt đầu ốm, là cái mốc đánh dấu sự khởi đầu cho những ngày tháng cuối cùng của Bác, thì tới ngày 24 tháng 8 năm 1969 bệnh của Bác đã trở lên phức tạp hơn, vì thế có thể coi ngày 24 là cái mốc thứ hai chăng?

Nếu vậy, ngày 28 tháng 8 năm 1969 có thể coi như cái mốc thứ 3. Bệnh của Bác lại phát triển xấu hơn. Trên điện tâm đồ xuất hiện diễn biến rối loạn nhịp tim báo hiệu khó tránh khỏi bị suy tim. Những cơn đau thắt ngực lại tăng lên. Các bác sĩ trong Hội đồng y tế luôn luôn túc trực xung quanh Bác để điều trị. Chiều hôm đó còn có thêm lực lượng y tế tăng cường. Đó là các chuyên gia Trung Quốc gồm: Bác sĩ Trương Hiếu người Quảng Đông chuyên về tim mạch, bác sĩ Hoàng Uyên người Bắc Kinh cũng chuyên về tim mạch, bác sĩ Tôn Chấn Hoàn chuyên châm cứu, cùng 2 nữ y tá.

Buổi chiều ngày 28, Bác như thiếp đi, nhưng không phải là ngủ say. Các đồng chí Bộ Chính trị, Trung ương và các bác sĩ cùng nhau lay gọi và lại tiêm thuốc cho Bác. Cũng may, chỉ một lúc sau Bác đã tỉnh lại. Mọi người vẫn còn nhớ mãi hình ảnh: Khi Bác từ từ mở mắt ra, nhìn thấy đông đảo các đồng chí trong Bộ Chính trị, Trung ương, Bác khẽ mỉm cười. " Ôi nụ cười đã hầu như héo đi trên gương mặt xanh xao của Bác nom mới xúc động làm sao!”. Ông Kỳ cùng những người phục vụ thường xuyên bên giường bệnh của Bác đều rớt nước mắt và thầm nhủ: Phải chăng đây là nụ cười lần cuối của Bác?.

Hôm ấy trời Hà Nội lại nắng khá gay gắt, không khí khá oi ả dù đã sang thu. Nước lũ sông Hồng vẫn hầm hập tràn ngập, chưa chịu lui. Nguy cơ vỡ đê vẫn còn lơ lửng trên đầu mọi người. Cũng trong buổi chiều hôm ấy, theo điện khẩn của ta, đoàn chuyên gia Liên Xô về bảo quản lưu giữ thi hài đã kịp thời tới Hà Nội. Đoàn gồm 5 người, đứng đầu là Viện sĩ thông tấn X.X Đê-lốp - Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm y học Liên Xô, Viện trưởng Viện thi hài Lênin dẫn đầu. Bước xuống sân bay, khôn mặt ông đã đầy vẻ lo lắng: "Thời tiết Việt Nam thế này, không hiểu có thể làm được việc gì đây?". Các ông nhìn xuống dòng sông lũ đỏ phù sa bầm bầm, mênh mông, kinh ngạc hỏi: "Đây là biển hay là con sông Hồng mà các nhà thơ Việt Nam vẫn từng ca ngợi là dòng sông mẹ hiền và tuyệt vời nhất của Việt Nam?...".

Qua ngày 29 tháng 8 năm 1969. Buổi sáng, tin từ Phủ Chủ tịch báo sang Bộ Chính trị: Bệnh tình Bác vẫn không có dấu hiệu thuyên giảm. Đồng chí Lê Duẩn cùng một số đồng chí trực tiếp làm việc với đoàn Viện sĩ Đê-lốp. Chiều hôm trước, đoàn chuyên gia này đã đi kiểm tra cả hai cơ sở ở 75A và 75B ngay sau khi đặt chân tới Hà Nội. Đoàn đã xem xét rất kỹ mọi máy móc, xem lại nhiệt độ, độ ẩm, việc thông gió và kết quả thực nghiệm. Viện sĩ Đê-lốp muốn tự mình được trực tiếp kiểm tra tất cả. Cuối cùng, ông đã thay mặt toàn đoàn thốt lên ngay tại chỗ với các bác sĩ Việt Nam: "Tốt! Tốt! Khí hậu Việt Nam khá là khắc nghiệt mà các đồng chí đã làm được thế này là giỏi lắm!". Bây giờ trước mặt các đồng chí lãnh đạo của Việt Nam, ông Viện sĩ vẫn nhắc nhở lời khen ấy và tin là Hà Nội đã có đủ khả năng để tiến hành công tác giữ gìn thi hài Bác Hồ trong giai đoạn đầu và lễ tang…

Đã phần nào an tâm, tuy nhiên Bộ Chính trị vẫn khẳng định một yêu cầu: Vạn nhất Bác có nằm xuống, tất cả mọi việc về khoa học và kỹ thuật vẫn nhờ đoàn Liên Xô trực tiếp giúp, các bác sĩ Việt Nam sẽ làm trợ thủ. Ông Đê-lốp thay mặt đoàn hứa sẽ làm hết sức mình với niềm tin và vinh dự lớn là được các đồng chí Việt Nam hết mực tin cậy.

Tuy nhiên, các vật tư thiết bị cần thiết khác cần bổ sung cho công việc đặc biệt này vẫn chưa đủ, kể cả kính đặc biệt cho hòm kính đặt thi hài cũng vẫn chưa có tin tức. Cũng may chúng ta đã không chịu bị động, nên đã có sáng kiến và chịu khó tìm tòi, cuối cùng đã có được hòm kính trên sân khấu Ba Đình.

Ngày 30 tháng 8 năm 1969. Bệnh tình Bác càng nặng thêm. Các đồng chí trong Bộ Chính trị, Trung ương,… đều lần lượt tới bên giường Bác. Nhưng Bác rất mệt. Rồi Bác lại lên cơn đau ngực, sau đó đi vào hôn mê… Tất cả đều bàng hoàng. Mọi người đã cuống lên. Nhưng các bác sĩ Việt Nam và Trung Quốc cùng yêu cầu mọi người bình tĩmh và ra khỏi phòng để các thầy thuốc kịp thời cấp cứu.

Một hồi sau, Bác lại từ từ mở mắt, ngước nhìn bốn xung quanh với vẻ mệt mỏi và có cả một chút gì đó tựa như sự bỡ ngỡ của một người đi vắng xa lâu lắm, nay mới trở lại… Tuy nhiên cũng vẫn kỳ lạ, tuyệt vời như lần trước đây, dù mệtnhưng Bác vẫn không hề quên gì hết. Khi thấy Thủ tướng Phạm Văn Đồng tới, Bác khẽ hỏi ngay: "Chú chuẩn bị việc tổ chức Quốc khánh  năm nay ra sao rồi?", và nhắc: "Nhớ nên bắn pháo hoa cho dân vui.”. Thủ tướng vô cùng xúc động, báo cáo là mọi việc đã chuẩn bị đầy đủ, xong xuôi. Bác lại hỏi lũ sông Hồng đã rút chưa? Cần phải lo cứu dân nếu đê vỡ… Thủ tướng không dám giấu Bác, báo cáo là nước lũ vẫn chưa rút hết.Nhưng Hội đồng Chính phủ cũng đã có nhiều cố gắng để giúp dân và đề phòng bất trắc. Rồi Thủ tướng mạnh dạn thưa sang ý khác: Chính phủ muốn mời Bác lên khu an toàn để Bác được tĩnh dưỡng và đề phòng lũ lụt. Bác lắng nghe. Nhưng rồi Bác lắc đầu, thong thả trả lời: "Không! Bác không muốn đi đâu cả. Bác không thể bỏ dân. Dân ở đâu Bác ở đó, dù lụt lội hơn nữa, dù Mỹ có ném bom Hà Nội trở lại… Các chú phải sẵn sàng cứu dân nếu đê vỡ”. Thủ tướng chỉ còn biết ứa nước mắt nhìn Bác và thầm kêu lên: "Bác ơi, đến cảnh ngộ này, Bác vẫn chỉ nghĩ đến dân…". Còn Đại tướng Võ Nguyên Giáp đứng cạnh đó thì nghĩ đến ngay đến việc đêm nay ông Tài phải điều mấy chiếc thiết giáp lội nước tới sau nhà 67 để sẵn sàng ứng cứu bằng mọi giá nếu đê vỡ nước có thể tràn vào đây.

Cũng rất khuya đêm ấy, những công việc mà ông Phùng Thế Tài, Phó Tổng Tham mưu trưởng nghĩ tới sau buổi đi kiểm tra cơ sở 75A và 75B về, nay đã được thực thi, và đêm nay - đêm 30 tháng 8 năm 1969 công việc ấy lại được tiếp tục. Rất sôi động nhưng cũng rất im lặng, kín đáo. Thật vậy, từ khi Bác mệt nặng đến nay, đêm đêm nếu ai có việc đi qua Hội trường Ba Đình và mấy đường như Trần Quang Khải dọc sông Hồng và Phan Đình Phùng từ bờ sông chạy ngược lên về phía Phủ Chủ tịch, đều thấy có các anh cảnh sát từ các bóng cây nhẹ nhàng xuất hiện yêu cầu khách rẽ sang lối khác, vì đường này đang có việc… Đó là các cán bộ, chiến sỹ công binh đã được phép của Bộ Công an cải trang làm công an giao cảnh, có nhiệm vụ bảo đảm trật tự, an ninh suốt dọc đường mà các phân đội của Lữ đoàn 144 đang tập luyện gấp chuẩn bị cho Lễ tang quốc gia. Lực lượng gồm: Một phân đội 150 chiến sỹ tập trung ở Hội trường Ba Đình chuyên tập các động tác tiêu binh danh dự, tập tiếp cận và bảo vệ "mục tiêu”, tập đưa, đặt các vòng hoa của các đoàn thể nhân dân, các khách trong nước và khách quốc tế thật thuần thục, theo đúng các quy định hết sức nghiêm ngặt của nghi lễ Quốc tang. Một bộ phận thứ hai cũng tập trung ở Hội trường Ba Đình để chuyên tập khiêng quan tài. Quan tài thật bằng gỗ Ngọc Am rất quý hiếm, có hương thơm, đã được lồng kính nặng 200kg. Quan tài dùng để luyện tập phải bảo đảm như thật nên phải bỏ vào khung kính thêm 2 bao gạo nữa. Trên nắp hòm kính còn đặt một bát nước đầy. Mười sáu cán bộ, chiến sỹ khiêng sao cho thật thăng bằng khi lên bậc tam cấp hội trường và cả lúc đưa lên sân khấu, rồi từ sân khấu lại phải đưa hòm kính đặt lên bệ linh cữu… Tất cả phải tuyệt đối thăng bằng, không rung rinh hoặc cao, thấp không được đánh đổ một giọt nước. Còn bộ phận ở bên ngoài, tập phương án hành quân chuyển thi hài. Đây cũng là bộ phận rất quan trọng và thực thi công việc cũng không kém phần khó khăn. Anh em phải dùng xe cứu thương riêng đã được khử trùng tuyệt đối an toàn để chuyển linh cữu từ H67 bên nhà sàn về 75A và 75B, sau đó ngược lại. Dọc đường cũng phải tuyệt đối an toàn và bí mật. Đội hình của bộ phận này gồm 5 xe: 2 cứu thương (một xe chính thức chở thi hài Bác, một dự bị) và 3 xevũ trang chở các bác sĩ và các đồng chí lãnh đạo cao cấp đi hộ tống. Tuy chỉ là diễn tập nhưng không khí hết sức trang nghiêm.

Ngày 01 tháng 9. Buổi sáng, Bác được ông Vũ Kỳ báo cáo là các chiến sỹ tên lửa Sư đoàn 361 vừa bắn rơi một máy bay không người lái của Mỹ, Bác đã yêu cầu gửi ngay một lãng hoa cho đơn vị vừa lập chiến công. Buổi chiều, Bác có vẻ tỉnh táo hơn và bỗng ngỏ ý muốn ăn một bát cháo. Ngạc nhiên và mừng quá, anh chị em nấu bếp đã nấu một bát cháo rất ngon đưa lên. Bác ăn có vẻ khá ngon miệng. Các chị nấu bếp sung sướng quá cứ chắp tay cảm ơn Bác đã ăn được và không phải chỉ các chị mà tất cả các bác sĩ cùng các đồng chí lãnh đạo đều rất mừng và lại khấp khởi hy vọng. Niềm vui vẫn chưa hết. Đến tối, khi đồng chí Phạm Văn Đồng tới thăm, Bác đã nói với đồng chí Tô (tên gọi thân mật của đồng chí Phạm Văn Đồng) là ngày mai làm Lễ Quốc khánh cho Bác ra dự khoảng 15 phút để được gặp đồng bào. Bác ra ngồi trên sân khấu trước, sẽ quấn khăn che cổ… rồi hãy tiến hành khai mạc. Bác sẽ cố nói cho được bình thường mấy câu với đồng bào. Nhưng đồng chí Thủ tướng báo cáo là đã làm mít tinh từ đêm trước rồi, vì Bác đang mệt. Bác lặng im vẻ không vui, phải chăng Bác hiểu, vậy sẽ không còn có dịp nào để tiếp xúc với nhân dân nữa.

Bác vẫn có vẻ tỉnh táo thậm chí có phần nhanh nhẹn hơn một chút. Khi nhà bếp đưa lên mời Bác một chén con chè long nhãn, Bác tự tay mình cầm được chén chè và ăn được hết. Mọi người lại quá mừng. Trong những giây phút tỉnh táo như xuất thần ấy, Bác lại nhắc ông Kỳ - Thư ký của Bác nhớ gửi vòng hoa tới viếng nghĩa trang liệt sĩ dịp Quốc khánh này, thậm chí rất lạ là Bác vẫn còn nhớ được tới việc Đội Cảnh sát Khu phố 4 Ba Đình đã bảo đảm giao thông tốt, được thành phố khen mà ông Kỳ đã đọc trên báo để Bác nghe. Có thể nói từ ngày 12 tháng trước (tháng 8) đến ngày đầu tháng 9 này, chưa bao giờ các đồng chí lãnh đạo và những người phục vụ xung quanh Bác lại vui và lại hy vọng như hôm nay về sức khoẻ của Bác. Nhưng lại tiếc thay, niềm vui ấy chưa trọn được một ngày. Chiều hôm ấy Bác lại rất mệt, nhiều lúc gần như thiếp đi và lần đầu tiên mọi người xung quanh thấy Bác rên. Những liếng trên của Bác, nghe như đứt từng khúc ruột. Tất cả lại bàng hoàng, lo lắng. Các bác sĩ Việt Nam và Trung Quốc lại lao vào mọi việc cứu chữa. Khi mọi người được yêu cầu phải ra khỏi phòng Bác, điện tâm đồ bật lên, màn hình hiện ra toàn tín hiệu xấu.

Tuy nhiên, sau khi được làm thuốc, Bác lại dần dần không rên nữa và lại mở mắt như muốn kiếm tìm ai. Hiểu ý, Tổ Y tế lại cho mọi người trở vào nhà, lại vây quanh lấy Bác trên chiếc giường bệnh quá đỗi đơn sơ. Đồng chí Nguyễn Lương Bằng khẽ đặt tay lên trán Bác, đồng chí Trường Chinh cầm lấy bàn tay gày guộc của Bác... Và đột nhiên Bác muốn uống cốc nước dừa. Bác nhìn ra hai cây dừa ở ngoài cửa. Đó là hai cây dừa do đồng bào miền Nam gửi ra biếu Bác lúc chúng mới chỉ là hai mầm non. Chính tay Bác trồng hai mầm non ấy cách đấy đã mấy năm, bây giờ chúng đã lớn và có quả. Tuy nhiên, bác sĩ Nhữ Thế Bảo ghé vội xuống lễ phép:

- Thưa Bác, bệnh Bác không nên uống nước dừa. Nếu Bác cần, xin lấy thứ khác để Bác. . .

Bác lắc đầu:

- Không sao đâu, Bác muốn được uống một chút nước dừa miền Nam thôi mà ... - Rồi Bác nho nhỏ nói tiếp: - Bác quê ở Nam Đàn nhưng mẹ Bác mất chôn ở Huế, cha Bác mất chôn ở tận Cao Lãnh. Chưa một lần Bác được trở lại hai nơi đó…

Tất cả đều đã hiểu và ai ai cũng hết sức xúc động. Thì ra vậy, đã bôn ba suốt cả tuổi thanh niên gần khắp trái đất này để tìm đường cứu nước, rồi lao vào những năm tháng cách mạng, tiếp đến hai cuộc chiến tranh gian nan, ác liệt. Cả cuộc đời hoàn toàn cống hiến cho sự nghiệp của nhân dân, Tổ quốc, nay đã về già vẫn không hề mai một những hình ảnh ruột thịt yêu dấu nhất của đời mình…Chính vì vậy càng thấy Bác gần gũi, càng vĩ đại hơn và tình yêu với Bác càng được nhân lên gấp bội. Trong khi mọi người còn chưa kịp nói gì, Bác lại cất tiếng nho nhỏ:

- Bác cám ơn tất cả các chú. Nhưng thôi, bây giờ các chú phải về làm việc đi!Còn Bác, đã có các bác sĩ ở đây rồi…

Mọi người lại muốn thốt lên từ trong gan ruột mình: Vẫn như vậy đấy, một khối óc vô cùng mẫn tiệp, một tâm hồn bao la vẫn luôn luôn toả sáng dù trong cơ thể chỉ còn mong manh sự sống.

Và ngày 2 tháng 9 năm 1969 đã tới. Sáng hôm ấy, như có linh cảm nào đó khác hẳn mọi hôm, trừ những người đi công tác xa, các đồng chí trong Bộ Chính trị đều tới thăm Bác khá sớm, dù trời mưa từ đêm, lác đác vẫn chưa tạnh. Các đồng chí phục vụ ở nhà H67 đã căng sẵn bạt trước nhà và bày  nhiều ghế, có lẽ cũng có những dự cảm nào đó, biết hôm nay người tới sẽ đông.

Mưa vẫn lất phất bay. Bầu trời đầy mây xám, ủ dột, buồn bã như lòng người. Đúng là khá đông, đông hơn tất cả mọi hôm. Nhưng không một tiếng nói to, càng không một nụ cười. Tất cả đều chỉ xì xầm nho nhỏ. Trong phòng Bác nằm, các bác sĩ và y tá, y công trực vẫn sẵn sàng ngồi đó, rất im lặng, nhưng cũng không dấu được vẻ ưu tư. Ông Vũ Kỳ trên tay vẫn luôn luôn có chiếc quạt lá, ngồi bên giường thi thoảng ông lại nhè nhẹ phẩy cho Người… Người vẫn nằm đó trên chiếc giường nhỏ đơn sơ với chiếc chăn mỏng đắp kín từ trên cổ xuống, hai mắt lim dim như đang phiêu du vào một cõi tư duy sâu xa nào đó, hoặc một trời kỷ niệm xưa đang như những ảo ảnh đứt nối quay về…

Thế rồi đột nhiên, Bác lại đưa tay ôm lấy ngực và trằn mình nghiêng sang một bên. Các bác sĩ như bật tung cả lên. Tất cả lại vội nhào vào việc. Máy điện tim lại mở gấp. Bác đã bắt đầu cơn đau dữ dội. Bác sĩ Nhữ Thế Bảo vội ôm lấy Bác vuốt ngực cho Bác liên hồi và nhìn trên màn hình. Ông và tất cả đều bàng hoàng. Những tín hiệu chỉ còn thoi thóp và toàn chạy ngang với những đường sáng nhấp nhô cực kỳ yếu ớt… Hơn ai hết, tất cả các bác sĩ biết là tình thế đã biến chuyển thế nào rồi. Các bác sỹ của Viện 108 được lệnh lập tức lập tức tiến hành ngay các động tác xoa, day lồng ngực cho Bác. Còn ông Bảo vồ lấy chiếc điện thoại nghẹn ngào gọi gấp về 75A: "Chuẩn bị!... Tình hình đã hết sức ngặt nghèo".

Khi buông ống nói, ông quay lại nhìn lên máy. Các tín hiệu vừa lúc vụt tắt. Đồng hồ chỉ 9 giờ 47 phút…

image.png

Người đầu tiên bật lên như mê sảng: "Trời ơi!”, đó là ông Vũ Kỳ. Chiếc quạt trên tay ông rơi tuột xuống sàn. Rồi ông oà khóc, khóc rũ r­ợi. Nhiều tiếng khóc khác cũng bật lên. Các đồng chí lãnh đạo hết sức bàng hoàng cùng ào tới vây quanh giường Bác. Không ai cầm được nước mắt nữa. Thảm thiết nhất là đồng chí Phạm Văn Đồng vừa khóc nấc, ông vừa vươn cả đôi tay run rẩy ra như muốn ôm, muốn níu kéo Bác ở lại với đồng bào, đồng chí, với nhân dân, với chiến sĩ… Đồng chí Võ Nguyên Giáp là nhà quân sự có phần cứng rắn hơn, nhưng cổ họng cũng như đã nghẹn thắt và nước mắt trào ra như mưa tuôn. Lúc đó, các bác sĩ chuyên gia Trung Quốc cùng nhau xếp hàng ngang trước giường Bác chắp tay kính cẩn lễ Bác, đoạn cúi đầu buồn bã bước ra khỏi phòng, nhường chỗ cho tất cả các đồng chí lãnh đạo và cán bộ của ta vào.

Mỗi lúc một thêm đông. Những tiếng khóc càng không kìm nén được và những giọt nước mắt cũng càng chảy dài trên tất cả những gương mặt trẻ, già - cả những gương mặt chưa một lần trong đời phải đổi sắc, dù trong bom đạn ngất trời, dù trong ngục tù khủng khiếp. Tất cả những gương mặt ấy tựa như nhoà cả đi, thậm chí tan nát trong niềm đau thương tột cùng và nỗi tiếc thương vô hạn.

Lúc đó ở cơ sở 75A, các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Lê Quang Đạo, Phùng Thế Tài, Kinh Chi… cùng Tổ Y tế đặc biệt của bác sĩ Gia Quyền cũng đã nhận được chỉ thị  ngay từ đêm sẵn sàng đợi lệnh. Đúng 9 giờ 47 phút sáng, đồng chí Phùng Thế Tài là người đầu tiên nhận được tin "sét đánh",chưa kịp ném ống nghe, dù là một vị tướng vô cùng gan góc, ông đã khóc oà. Nhưng rồi kịp nén mình lại, ông ra lệnh: "Tất cả về vị trí!". Thế là mọi cán bộ, chiến sĩ có mặt đều đứng phắt cả lên, mặt còn đầy nước mắt nhưng tất cả đều hết sức nghiêm chỉnh cùng đáp: "Sẵn sàng!". Trong những tiếng đáp ấy vẫn nghe vẫn đầy nước mắt và cả sự run rẩy bàng hoàng. Kíp chuyên gia Liên Xô gồm năm người: Viện sĩ Trưởng đoàn X.X Đê-lốp, Viện sĩ I.M Lô-pu-khin, Giáo sư I.N Mi-khai-lốp, Giáp sư B.I Khơ-mu-tốp cùng Bác sỹ G.N Sa-tơ-rốp  đều trực ở đây từ mờ sáng, lúc này cũng đứng cả dậy, xúc động rớm lệ…

Tổ Y tế tiến vào gần hơn nữa, đồng chí Phạm Văn Đồng khẽ yêu cầu mọi người dãn ra cho anh em chuyên môn thực hiện nhiệm vụ. Khi bước tới giường, sát với Bác không phải riêng bác sỹ Châu mà cả Tổ Y tế đều không kìm được mình, cùng bật khóc oà. Nhưng rồi khi bác sĩ Quyền giơ tay ra hiệu bắt đầu nâng Bác lên, mọi người trong Tổ cùng gạt vội nước mắt… Và thế là cả 3 bác sỹ Quyền, Châu và Hát cùng cúi xuống, đưa tay ra… Tới giây phút này, tất cả những tiếng nức nở lại trào lên thắt ruột, cháy gan.

image.png

Bác được nhẹ nhàng nâng lên khỏi giường, rồi được đặt lên băng ca, sau đó lên xe cứu thương FH1468. Tất cả gọn gàng trong có 15 phút. Ôi! cả 15 năm dài Bác đã sống ở đây và làm bao nhiêu công việc vĩ đại cho nhân dân, cho Tổ quốc. Vậy mà nay Bác không thể nán lại thêm với đời, với dân tộc, đất nước, với biết bao cháu con xa gần, cho đến thắng lợi cuối cùng để Bác sẽ được vào thăm đồng bào miền Nam, thăm nơi cha mẹ Bác trút hơi thở cuối cùng mà trong tận thẳm sâu đáy lòng mình Bác vẫn không bao giờ quên thương nhớ.

Đoàn xe đặc biệt rời Phủ Chủ tịch, bầu trời vẫn đầy mây xám, vô cùng buồn bã, mưa vẫn chốc chốc lại lã chã rơi. Trời, đất vẫn chưa thôi tiếc thương người Anh hùng đã phải ra đi. Người đã trở về Thủ đô mùa thu 1945, ngày 2 tháng 9 năm ấy Người chính thức tuyên bố khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Năm nay 1969 cũng mùa thu, cũng ngày 2 tháng 9 nhưng Người lại từ biệt cõi đời này.

Ở 75A, các đồng chí Nguyễn L­ương Bằng, Lê Quang Đạo, Phùng Thế Tài đã đợi sẵn, phía sau là các chuyên gia Liên Xô. Và ròi, xe chở Bác đã tới.

Theo đúng nguyên tắc và thủ tục, công việc đầu tiên là làm biên bản sơ bộ khám nghiệm và tiếp nhận đã được thực hiện rất mau lẹ. Ngay sau đó, Bác được chuyển ngay vào phòng đặc biệt. Ở đó lúc này chỉ có Tổ chuyên gia Liên Xô và phía Việt Nam là hai đồng chí Phùng Thế Tài, Kinh Chi được uỷ nhiệm có mặt cùng hai bác sĩ Nguyễn Gia Quyền và Lê Điều có trách nhiệm hỗ trợ các chuyên gia trong mọi khâu kỹ thuật.

Đúng 12 giờ, các công việc kỹ thuật và khoa học bắt đầu trong không khí đặc biệt im lặng. Trước khi bắt tay vào làm nhiệm vụ, các chuyên gia y tế Liên Xô và các bác sỹ Việt Nam đều đứng nghiêm, cúi đầu im lặng trước thi hài Bác mặc niệm, thầm cầu xin vong linh Bác chứng giám cho công việc của họ.

image.png

Những yêu cầu khoa học về giữ gìn thi hài đã được nhất trí hoàn toàn giữa hai phía Liên Xô và Việt Nam như sau:

- Bảo đảm thi hài tốt, sẽ không có vi nấm, không đen xạm.

- Giữ được những nét đặc trưng của thi hài như khi còn sống, đặc biệt là mắt, mũi, miệng, râu, tóc và hai bàn tay.

- Giữ được lâu dài.

- Bảo đảm được yêu cầu có thể đông đảo ngườitới viếng, thăm trong môi trường bình thường.

Làm được đúng, triệt để những yêu cầu này, trên thế giới chỉ có các chuyên gia tiên Xô, bởi trong công việc này còn phải có những bí mật riêng mang tính quốc gia, ví dụ một dung dịch đặc biệt mà trên thế giới này chưa một nước nào có. Dung dịch này cấm không được phép phổ biến công thức. Khi Chính phủ Liên Xô đồng ý thì các chuyên gia mới được nhận dung dịch này và đem đi, và số lượng cũng được duyệt nghiêm ngặt.

Trong lúc các chuyên gia làm việc, hai ông Tài và Kinh Chi nén nước mắt cùng đứng im lặng quan sát. Hai ông đều thầm nhận thấy các chuyên gia quả là tuyệt vời thành thạo, hai bàn tay đúng là bàn tay vàng. Đã rất siêu việt trong tay nghề, các bác sỹ liên Xô còn biểu lộ rất rõ một tinh thần hết mình và tác phong vô cùng cẩn trọng, nâng niu từng sợi tóc, sợi râu, từng móng tay… và từng mũi kim tiêm. Làm việc đến quên cả nghỉ, quên cả ăn uống, từ 12 giờ cho tới 21 giờ khuya, các chuyên gia Liên Xô mới rời khỏi phòng. Riêng hai bác sĩ Việt Nam với tư cách người nhà còn phải nán lại để hoàn tất những công việc cuối cùng. Khi đồng hồ đã chỉ 24 giờ - nửa đêm, cả hai ông mới bước ra cửa, người lảo đảo vì quá mệt nhưng vẫn chưa sao hết xúc động, chỉ muốn một giấc ngủ ngay, để rồi ngày mai còn tiếp tục hỗ trợ các bạn Liên Xô làm thuốc, để "Công tác y tế bước 1 của giai đoạn 1 việc bảo quản thi hài” được hoàn thành. Rồi còn phải cùng nhau làm việc tiếp hai ngày nữa mới là hoàn tất "Giai đoạn 2”, để đêm 4 tháng 9 có thể đưa thi hài Bác tới Hội trường Ba Đình làm lễ viếng vào sáng ngày 6 tháng 9 theo đúng chương trình đã định.

Trong hai ngày 3 và  tháng 9 ấy, trên Hội trường Ba Đình có khá nhiều bộ phận làm việc rất khác nhau chuẩn bị cho ngày lễ tang. Trông có vẻ tấp nập, nhưng không khí rất trầm buồn. Mọi người gần như im lặng, dù hối hả. Nhóm treo cờ băng, treo khẩu hiệu, nhóm xắp xếp lại các hàng ghế, nhóm chỉnh, thử lại các thiết bị âm thanh và các băng nhạc lễ, nhóm kiểm tra lại hòm kính của thi hài Bác trên sân khấu cùng toàn bộ các máy móc thiết bị điều hoà không khí, nhiệt độ, độ ẩm cùng hệ thống thông hơi, quạt gió đặt cả dưới gầm sàn… Những đội bảo vệ và tiêu binh danh dự cũng tập lại đội hình và di chuyển, làm sao cho mọi sự phối hợp, hiệp đồng thật ăn khớp với các bộ phận khác của Ban tang Lễ Nhà nước. Đông người quá mà địa điểm lại chật hẹp. Người của Bộ Kiến trúc, người của Bộ Văn hoá, người của Văn phòng Phủ Thủ tướng, Văn phòng Trung ương, người của công an, bảo vệ…. Tất nhiên không thể thiếu các cán bộ, chiến sĩ công binh những người đã trực tiếp xây dựng cơ sở 75A và cũng đã trở thành những "tác giả" chính làm nên cả cơ sở 75B ở Ba Đình này. Kỹ sư Bùi Danh Chiêu thuộc nhóm cán bộ công binh (do đại uý Trọng Quyển trực tiếp phụ trách) đã hoàn thành nhiệm vụ ở 75A vừa qua, mấy hôm nay anh liên tục có mặt ở đây để theo dõi, hoặc chỉnh lại các máy móc thiết bị thông hơi, quạt gió, điều hoà nhiệt, ẩm nhằm bảo đảm thông số của hòm kính thật tốt. Anh cùng các cán bộ của anh em chiến sĩ làm việc hết sức miệt mài, cần mẫn. Tuy nhiên để giảm bớt căng thẳng, trong đôi phút giải lao cũng hay ôn lại chuyện cười dở mếu, dở cười: Khi làm cái 75B này xảy ra chuyện có hòm mà không có kính! Nguyên do thế này: Kế hoạch và chủ trương làm cơ sở 75A thì quá rõ rồi, anh em đều biết cấp trên đã có lệnh cho công binh làm. Nhưng làm cơ sở nữa 75B trên Ba Đình thì nghe đâu trên lại trao cho một Bộ nào đó phụ trách. Cũng nghe nói Bộ nọ cũng đã làm được một vài việc, và cũng đi xin Liên Xô viện trợ. Nhưng gặp khó khăn, hoặc do chậm trễ tàu biển, xe lửa liên vận… thế nào đó, nên cuối cùng vật tư, máy móc, nhất là kính để làm hòm đặc biệt cho Bác vẫn chưa thấy đâu, trong khi đó cơ sở 75A đã cơ bản hoàn thành. Trước tình hình ấy, không hiểu Ban Chỉ đạo có giao cho công binh làm luôn cả 75B hay không. Lính ở dưới chỉ biết là ông Tài đã lệnh cho Công binh tranh thủ làm. Thế là bộ phận do ông Trọng Quyển phụ trách lại cùng nhau kéo lên Ba Đình. Nghiêm túc, triệt để chấp hành mệnh lệnh và luôn luôn chủ động sáng tạo, đó là truyền thống của quân đội. Lên Ba Đình lại phát huy mọi nỗ lực và sáng kiến làm xong được cả cái 75B. Anh em đã gọi vui đây là "phương án 2”. Nay thì quả là "phương án 2" đang phát huy tác dụng của nó.

Thế rồi tối 5 tháng 9 thi hài Bác đã được chuyển lên Hội trường Ba Đình, được đặt vào hòm kính giữa sân khấu đã được trang trí hết sức trang nghiêm. Đúng 6 giờ sáng ngày 6 tháng 9, các đồng chí lãnh đạo đã có mặt đầy đủ ở đây. Các chuyên gia Liên Xô cũng đến rất sớm và cẩn thận cho vận hành máy móc để kiểm tra lại lần cuối, xem lại các thông số kỹ thuật như nhiệt độ, độ ẩm và cả các loại đèn chiếu xem có đủ tiêu chuẩn và bảo đảm hay không. Viện sĩ Đê-lốp ôm lấy các đồng chí Công binh và các đồng chí lãnh đạo của ta mà mừng rỡ bắt chặt tay các chuyên gia, bày tỏ những lời cảm ơn rất chân thành, rồi cùng mọi người chắp tay im lặng ngắm nhìn Bác trong khung kính dưới ánh đèn chiếu các loại, cả tia cực tím.

image.png

Bác nằm đấy trong khói hương thành kính tôn nghiêm, trong vùng ánh sáng ngời ngợi càng lộ rõ vẻ đại hiền nhân với gương mặt hơi hao gầy với màu da và những đường nét đặc biệt Việt Nam, với bộ râu thông thái, bộ quần áo ka ki bốn túi, cổ đứng, hết sức đơn giản và đôi dép cao su đặt riêng ở bên ngoài khung kính, phía dưới chân Bác. Nằm đấy mà dường như tình yêu bao la của Bác vẫn đang lan tỏa với tất cả mọi người. Bác như vẫn tư duy về biết bao điều lớn lao cho đất nước, cho dân tộc… Bác của chúng ta đó - lãnh tụ tối cao của công cuộc giải phóng nước nhà và xây dựng nên nước dân chủ, cộng hòa đầu tiên trên cả vùng trời Châu Á này, người mà UNESCO sau đó đã vinh danh là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất..

image.png

Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người đồng chí tin cậy và thân quý của Bác từ những năm còn trên Việt Bắc vẫn chắp tay đứng đó, hai mắt nhòe lệ. Đồng chí Võ Nguyên Giáp, người học trò, người đồng chí, nhà quân sự xuất chúng vô cùng yêu quý và tin cậy của Bác, đứng bên. Vị tướng dẫu sao cũng vẫn cố kìm được những giọt lệ, nhưng mặt sắt lại và thoáng xanh đi trong biết bao niềm đau khôn tả. Những đồng chí khác trong Bộ Chính trị và Chính Phủ cũng đều chung nỗi niềm tiếc thương tràn đầy trên gương mặt và khóe mắt.

Ngoài trời lại mưa. Tạo hóa như vẫn khóc thương người Anh hùng đã đi xa.

Rồi các đoàn đại biểu của các tầng lớp nhân dân, các cơ quan, các đoàn thể quân đội và công an, đoàn nào cũng mang hoa kính cẩn viếng Bác. Nhưng hôm nay hoa nào cũng đều như héo buồn. Vòng nào cũng mang băng tang như mang theo cả biết bao giọt nước mắt, biết bao nỗi niềm thương, nỗi nhớ và lòng tri ân.

Cùng ra đứng ở bậc thềm hội trường nhìn cảnh nhân dân đội mưa đi viếng Bác, tiếng khóc râm ran khắp cả một vùng cháy lòng cháy ruột, đồng chí Nguyễn Lương Bằng thốt lên với đồng chí Lê Văn Lương: “Chủ trương của Đảng ta lưu giữ thì hài Bác quả là hoàn toàn đúng đắn, phải không anh?”.

Theo kế hoạch của Ban Lễ tang thì đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng cùng các đoàn khách quốc tế tới viếng Bác đi riêng và được vào hội trường chỉ sau đoàn thân nhân của Bác ở Nghệ An. Trong danh sách các đoàn quốc tế, có Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Liên Xô và Chính phủ Liên Xô do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Kố-sư-ghin dẫn đầu; Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc và Chính phủ Trung Quốc do đồng chí Bộ trưởng Ngoại giao Trần Nghị dẫn đầu; Đoàn của Chính phủ Hoàng gia Cam-pu-chia do Quốc vương Xi-ha-núc dẫn đầu; Đoàn đại biểu Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào do Hoàng thân Xu-va-na-vông dẫn đầu.

            Lễ viếng bắt đầu bằng bản nhạc “Hồn tử sĩ” thật trầm buồn. Không khí trong, ngoài hội trường bị nén lại đã lâu, nay tới lúc như trào với biết bao nỗi đau thương, tiếc nuối, nghẹn ngào.

            Các đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ, thân nhân Bác và quốc tế lần lượt vào viếng trước. Rồi bắt đầu đến dòng người như vô tận của các đoàn thể nhân dân, các cơ quan, xí nghiệp, hợp tác xã, các tôn giáo, các giới khoa học, tri thức, văn hoá, văn nghệ thuật, thể thao, y tế. Ai ai cũng như muốn được dừng lại lâu, thậm chí như muốn được ôm lấy lại quan tài kính mà vật vã khóc than. Đó là những bà mẹ, những ông già, những cháu bé chưa kịp vào hội trường, mới chỉ bước lên bậc tam cấp của hội trường, hoặc khi viếng xong trở ra hai mắt đầy lệ đã quỵ xuống vì quá đau buồn, thương tiếc.

Các sĩ quan làm nhiệm vụ đưa dẫn các đoàn cũng đều đã ướt đẫm nước mưa. Có nhiều người đã ngất đi. Các nhân viên y tế gần như liên tục phải làm việc cấp cứu. Riêng phóng viên báo chí trong nước và quốc tế có lẽ đã quen nghề nghiệp nên vẫn dẻo dai và hết sức năng động. Nhiều anh vẫn chạy khắp nơi, tất bật lấy tin, vội vã ghi hình, khi trong hội trường, lúc ngoài quảng trường. Họ đã ghi được không khí tiéc thương vô hạn và xúc động nghẹn ngào trong buổi tang lễ.

Lễ viếng sang ngày thứ hai. Người tới lễ Bác vẫn với mũ áo tề chỉnh mặc dầu trời vẫn sập sùi, trần mây nặng trĩu. Sáng hôm nay trên tầng 2 hội trường đã có một cuộc họp bất thường rất quan trọng của một số nhà khoa học y tế theo yêu cầu của Bộ Chính trị, do bác sĩ Vũ Văn Cẩn mới được đề bạt Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trì. Họp lấy ý kiến của các nhà khoa học, vì sau ngày đầu viếng Bác mọi việc đã diễn ra hết sức hoàn hảo, nhưng nhóm các chuyên gia y tế Liên Xô đã nghĩ tới các công việc tiếp theo. Họ đề nghị lãnh đạo Việt Nam chuẩn bị sẵn sàng sau lễ viếng và lễ tang sẽ đưa thi hài Bác qua Liên Xô để tiếp tục làm thuốc và lưu giữ. Theo các chuyên gia thì chỉ Mát-xcơ-va mới có đủ điều kiện về môi trường và kỹ thuật. Việt Nam dẫu sao cũng mới bắt đầu thực hiện công việc đặc biệt này, thêm nữa vật tư, hoá chất, máy móc còn thiếu nhiều, riêng dung dịch đặc biệt các chuyên gia được đem sang đây chỉ đủ dùng cho 20 ngày là hết, trong khi đó Việt Nam lại đang có chiến tranh, không thể lường trước được những tình huống phức tạp xảy ra…

Vấn đề quá lớn, lập tức đã được cấp báo lên Bộ Chính trị. Trong cuộc họp bất thường có Giáo sư Đỗ Xuân Hợp, Phó Tiến sĩ Đặng Hanh Khôi, Phó Tiến sĩ Nguyễn Hữu Phúc, Phó Tiến sĩ Nguyễn Khánh và các bác sỹ Nguyễn Gia Quyền, Lê Điều.

Các nhà khoa học của chúng ta đã thảo luận rất nghiêm túc, kỹ lưỡng và cuối cùng đều thấy: Tuy chưa có kinh nghiệm nhiều trong lĩnh vực này nhưng các nhà y tế, khoa học của chúng ta từ lâu cũng đã có nghiên cứu về các ngôi mộ cổ, về các xác ướp, về việc gìn giữ thi hài bằng những phương pháp dân tộc truyền thống. Ngoài ra các bác sĩ ta cũng đã được học ít nhiều trên lý thuyết của thế giới về những việc này, nhất là vừa qua mới được học trực tiếp các chuyên gia Liên Xô nên công việc lưu giữ thi hài lâu dài tuy cực kỳ khó nhưng cũng không hoàn toàn xa lạ. Cuối cùng tất cả kiên quyết không đồng ý đưa Bác đi, xin lưu giữ Bác ở lại lâu dài trong nước và tin là ta có thể làm được. Quyết tâm này được lập tức báo cáo ngay lên Bộ Chính trị. Các đồng chí lãnh đạo đánh giá rất cao quyết tâm của đội ngũ bác sỹ nước nhà.

Trước đó, để các chuyên gia Bạn tận mắt hiểu sâu thêm về ân tình giữa Bác Hồ và nhân dân ta, Ban Chỉ đạo Lễ tang đã cho đưa các chuyên gia đi khắp nơi trong thành phố, nhất là trong lễ viếng. Các bạn đều đã phải thốt lên: "Quả là khó có thể đưa Bác Hồ đi xa nhân dân và đất nước Việt Nam".

Tới chiều ngày thứ ba của lễ viếng, cũng trên tầng hai Hội trường Ba Đình đã diễn ra cuộc họp chính thức giữa lãnh đạo cao cấp của hai bên. Phía Việt Nam do đồng chí Lê Duẩn là đại diện, phía Liên Xô là đồng chí Kô-sư-ghin, cùng bàn về việc sau lễ tang có đưa Bác sang Liên Xô làm thuốc và bảo đảm mọi mặt như hai bên đã sơ bộ thống nhất từ năm 1967 hay không?

Trong cuộc họp, phía Việt Nam đã chân thành và thiết tha, căn cứ vào tình cảm sâu nặng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và cả sự trưởng thành của đội ngũ cán bộ y tế của Việt Nam, đề nghị cứ để Bác ở lại Việt Nam. Phía Liên Xô thì nghiêm chỉnh theo đúng thoả thuận cũ năm 1967 tuyên bố sẵn sàng đón nhận thi hài Bác sang Mát-xcơ-va, và hứa sẽ hết lòng chăm sóc Bác Hồ như chăm sóc Lê-nin cho tới khi nào có điều kiện sẽ rước Bác trở lại Việt Nam. Thảo luận đi thảo luận lại, cả hai bên đều rất nghiêm túc và đầy tinh thần trách nhiệm. Cuối cùng đồng chí Kô-sư-ghin không khỏi xúc động chính thức phát biểu ý kiến: Thay mặt Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Nhà nước Liên Xô sang Việt Nam dự lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí đã hiểu rõ nguyện vọng chính đáng của Đảng và Nhà nước Việt Nam cùng nhân dân Việt Nam, vì vậy đồng chí quyết định tán thành đề nghị của phía Việt Nam để Bác Hồ lâu dài ở Việt Nam mãi mãi. Phía Liên Xô cam kết sẽ tiếp tục hết lòng hỗ trợ, giúp đỡ Việt Nam mọi mặt. Đồng chí sẽ chịu trách nhiệm về quyết định này. Đồng chí cũng cho biết đã tham khảo lại các chuyên gia Liên Xô hiện có mặt ở Việt Nam, họ cũng đã hoàn toàn nhất trí. Tuy nhiên, hiện có khó khăn lớn là Bạn mang sang dung dịch đặc biệt dùng cho việc lưu giữ thi hài, chỉ đủ dùng cho 20 ngày, nay đã sắp hết. Đồng chí Kô-sư-ghin cho biết đã nói với các chuyên gia Liên Xô: Nếu cuộc hội đàm cấp cao giữa đôi bên quyết định cứ lưu Bác Hồ ở lại, thì ngay ngày mai đồng chí sẽ cho phép một chuyên gia Liên Xô đi theo chuyên cơ của đồng chí về Mát-xcơ-va lấy thêm dung dịch đặc biệt và trở lại Việt Nam ngay cũng bằng máy bay. Như vậy chỉ độ 3 ngày nữa sẽ có dung dịch bổ sung kịp thời… Không còn biết nói gì hơn nữa, các đồng chí lãnh đạo Việt Nam đều đứng cả dậy ôm lấy đồng chí Kô-sư-ghin mà bày tỏ lòng tri ân vô hạn trước tình cảm cách mạng cao quý của những người cộng sản và Chính phủ Liên Xô anh em…

Khi hai đoàn đại biểu rời khỏi phòng xuống tầng dưới ra để về qua cửa bên, một số cán bộ Việt Nam đang làm nhiệm vụ ở đó, thấy vẻ mặt của các vị lãnh đạo của cả đôi bên, đã biết kết quả ra sao rồi. Các vị đi khuất anh em cùng nắm lấy tay nhau mừng rỡ, chỉ còn thiếu reo lên.

Ngày 9 tháng 9 năm 1969, Lễ truy điệu Bác được tổ chức trọng thể ngoài Quảng trường Ba Đình để nhân dân Hà Nội và các tỉnh lân cận có thể tới dự không phải hạn chế số người như trong lễ viếng.

image.png

Từ mờ sáng, các đoàn người đủ các giới phụ lão, thanh niên, phụ nữ, nhất là các em thiếu niên, học sinh, sinh viên hôm nay đi rất đông cùng với đủ các giới nghề nghiệp khác nhau từ ngoại tới nội thành và các tỉnh lân cận. Đặc biệt hôm nay có rất đông các sắc tộc như: Mường, Tày, Nùng, Thái, Dao và có cả Êđê, Bana, Càtu, Vân Kiều… ở phía Nam mới ra Bắc hoặc đã ra lâu nay đang là sinh viên, học nghề, hoặc diễn viên văn nghệ, vận động viên thể dục thể thao đến viếng Bác. Đại biểu các tôn giáo cũng rất đông, quân đội, công an, các cơ quan, đơn vị ở Thủ đô Hà Nội và các tỉnh lân cận. Quảng trường Ba Đình kín đặc, người còn tràn cả ra các đường Bắc Sơn, Hoàng Văn Thụ. Nếu như trong mấy ngày qua làm lễ viếng trong hội trường, nhân dân, cán bộ nối nhau đi từng đoàn rất dài vào làm lễ xong lại nối nhau đi ra, đã tạo nên hình ảnh một dòng sông lớn bất tận, thì hôm nay lễ tang làm ngoài trời lại là một khung cảnh khác. Một biển người mênh mông dào dạt như sóng. Nếu không khí bao trùm mấy ngày lễ viếng là vô cùng đau thương, thì hôm nay vừa đau thương nhưng cũng vừa cả tự hào. Đau thương thì đã rõ, còn tự hào là đứng trong hàng ngũ của hơn 10 vạn con người bạt ngàn này, ai ai dường như cũng đều cảm thấy niềm tin và tự hào về truyền thống thống nhất và sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc mình.

Buổi lễ đã bắt đầu bằng đoàn quân nhạc hùng hậu gồm mấy trăm người cùng tấu lên bản Quốc ca hùng tráng, sau đó là bài Hồn tử sĩ … Không khí trên toàn quảng trường như thay đổi hẳn. Im phắc. Ban Tổ chức lễ tang đọc lời khai mạc, giới thiệu 50 đoàn khách quốc tế và trên 10 vạn đồng bào đã có mặt trong buổi lễ lớn này. Tiếp đó, đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng với mái tóc vẫn còn đen của tuổi trên 60, bước lên bục gỗ cao, giữa 7 cây micro gần như vây tròn, được đặt ngay trên mặt đường trước lễ đài lớn. Trên lễ đài chỉ có một chân dung rất lớn của Bác với Quốc kỳ và Đảng kỳ. Trước ảnh Bác là một đài hương cũng rất lớn với trầm, hương nghi ngút.

Đồng chí Duẩn với giọng Quảng Bình tha thiết lại ngập tràn xúc động vùa mới đọc được mấy câu mở đầu: "Hồ Chủ tịch kính yêu của chúng ta không còn nữa! Tổn thất này vô cùng lớn lao. Đau thương này thật là vô hạn…”.

image.png

Tổng Bí thư Lê Duẩn đọc lời điếu

Ngay lập tức dưới lễ đài, các đoàn đại biểu, quần chúng nhân dân, nhiều người đã òa khóc.

Rồi cũng với giọng đầy xót thương và vô cùng kính trọng, đồng chí Lê Duẩn tiếp tục đọc trong nghẹn ngào, thương cảm không sao nén lại được:

" … Hồ Chủ tịch là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, là người xây dựng nền Cộng hoà dân chủ Việt Nam và Mặt trận thống nhất, là người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Người là linh hồn, là ngọn cờ chói lọi, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng, chiến đấu anh dũng, viết lên những trang sử vẻ vang nhất của Tổ quốc ta… ".

Tiếng nức nở trên biển người dường như không thể nén lại được nữa, cùng trào lên trên khắp quảng trường…

Rồi đồng chí Lê Duẩn nén xúc động, dõng dạc đọc những lời thề của nhân dân trước Anh linh của Bác:

Lời thề thứ nhất:

... " Vĩnh biệt Người, chúng ta xin thề: Giương cao mãi mãi ngọn cờ độc lập dân tộc, quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước để thoả lòng mong ước của Người”.

Lập tức cả hơn 10 vạn con người cùng đồng thanh hô vang: " Xin thề!".

Lời thề thứ hai:

“Đem hết sức mình tiếp tục phấn đấu thực hiện lý tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa cao đẹp mà Người đã vạch ra cho giai cấp công nhân và nhân dân ta,  đem lại phồn vinh cho đất nước, hạnh phúc cho đồng bào”.

Lời thề thứ ba:

“Hết lòng hết sức giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con người của mắt mình, tăng cường sức chiến đấu của Đảng, làm hạt nhân cho khối đoàn kết toàn dân, bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam hoàn toàn thắng lợi ".

Lời thề thứ tư:

“Luôn luôn phát huy tình cảm quốc tế trong sáng của Hồ Chủ tịch, hết lòng góp sức vào việc khôi phục và tăng cường sự đoàn kết nhất trí trong phe xã hội chủ nghĩa và giữa các Đảng anh em thiên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, thắt chặt tình đoàn kết giữa các dân tộc Đông Dương, gia sức ủng hộ phong trào cách mạng của nhân dân các nước, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội ".

Lời thề thứ năm:

“Suốt đời học tập đạo đức, tác phong của Người, bồi dưỡng phẩm chất cách mạng, không sợ gian khổ, không sợ hy sinh rèn luyện mình thành những chiến sỹ trung thành với Đảng, với dân, xứng đáng là đồng chí, là học trò của Hồ Chủ tịch. Noi gương Người, toàn thể nhân dân ta, thanh niên ta nguyện ra sức trau dồi mình thành những con người mới, làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, mang lá cờ bách chiến bách thắng của Hồ Chủ tịch tới đích cuối cùng!".

Cứ sau mỗi lời thề, cả hơn 10 vạn con người lại giơ cao tay hô vang như sấm: " Xin thề!". Nhưng khi bài điếu văn rất súc tích và cảm động ấy kết thúc, tiếng khóc lại cùng bật lên nhiều hơn, lớn hơn trước. Các cháu thiếu nhi khóc như mưa như gió, nhiều cháu như mê đi vì quá xúc động, lăn lộn trong vòng tay bạn bè. Cả rừng người cùng chuyển động, râm ran, nức nở. Những người gan góc nhất không bật ra tiếng khóc cũng phải âm thầm lau ngấn lệ trên khoé mắt. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ: Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… đều cùng rời vị trí dưới chân lễ đài tiến ra với đồng bào, trước hết là đến với các cháu để an ủi. Nhưng thấy các đồng chí, các cháu lại càng khóc to, khóc rũ, đến nỗi chính các đồng chí cũng không cầm được nước mắt nữa. Đây là lúc các đoàn khách quốc tế, các phóng viên quốc tế hết sức chăm chú để mau lẹ ghi hình hoặc ghi âm; nhiều người đã phải thốt lên là họ đã được chứng kiến ở đây cả một dân tộc khóc than thương tiếc lãnh tụ kính yêu của mình. Anh I-sa-ha-ki Mi-sao, Trưởng đoàn quay phim của hãng Nihon Denpa news Nhật Bản cũng đã nói: "Phim này của chúng tôi sẽ không cần phải thuyết minh gì nhiều, chỉ riêng hình ảnh quay được hôm nay: Cả dân tộc Việt Nam khóc than, thương nhớ Chủ tịch Hồ Chí Mình như thế nào, đã đủ nói lên tất cả!". Anh Jêm Ca-xtin, phóng viên báo Nhân đạo Pháp cũng thốt lên: "Từ nhỏ tôi đã được nghe nói cả nhân dân Ấn Độ khóc thương thánh Gandhi của họ. Bây giờ tôi mới thấy cảnh tượng này ở Việt Nam. Chủ tịch Hồ quả là một người vĩ đại "…

Hôm sau, các quan khách quốc tế lần lượt ra về. Các cán bộ lãnh đạo của ta đưa tiễn đồng chí Kô-sư-ghin ra tới tận sân bay. Bên cạnh đồng chí Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô còn có cả một chuyên gia y tế cùng về Mát-xcơ-va để lấy gấp dung dịch đặc biệt mang sang Hà Nội, đúng như lời hẹn hôm trước. Các đồng chí Việt Nam chỉ còn biết thiết tha ôm lấy những người đồng chí, anh em hết sức nhiệt tâm và vô cùng trung hậu của mình.

"Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh - Đài hoa vĩnh cửu”, Nhà xuất bản Quân đội

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn