Lắng lòng nghe câu chuyện xúc động của một cựu binh
Cựu chiến binh Nguyễn Văn Hợi sinh ra và lớn lên tại khu phố Vĩnh Thịnh, phường Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên. Sau khi nhập ngũ, ông được biên chế vào Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 246, Quân khu Việt Bắc. Sau này Tiểu đoàn K3 được tăng cường cho Tỉnh đội Quảng Trị và cái tên Tiểu đoàn K3 – Tam Đảo đã đi vào lịch sử với thắng lợi trong chiến dịch giải phóng Khe Sanh – Đường 9, chiến dịch 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - nơi ta và địch giành nhau từng tấc đất, mỗi mét vuông đất là biết bao xương máu của các anh hùng, liệt sĩ đã ngã xuống. Nơi đây, các cán bộ, chiến sĩ của tiểu đoàn đã nêu cao ý chí quyết tâm giữ vững Thành cổ với câu nói bất hủ “K3 – Tam Đảo còn thì Thành cổ Quảng Trị còn”. Nguyễn Văn Hợi là một trong hơn 10 chiến sĩ cuối cùng của Tiểu đoàn K3 - Tam Đảo đã chấp hành lệnh rút lui chiến thuật ra khỏi Thành cổ vào đêm ngày 15/9/1972.
Trong ký ức của ông, mảnh đất Quảng Trị đã ăn sâu vào máu thịt bởi nơi đây đã có rất nhiều đồng đội của ông đã ngã xuống, giành lại độc lập tự do cho dân tộc. Hiện ông đang làm trưởng ban liên lạc Tiểu đoàn K3 - Tam Đảo, bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị. Nhớ về chiến trường xưa, ông chia sẻ: “Hồi đó, Khe Sanh được địch xem là “Điện Biên Phủ thứ 2” ở Việt Nam, có lúc địch tăng cường quân số lên vài nghìn người. Nhận được chỉ thị phải tiêu diệt địch ở Khe Sanh, đêm 28 rạng ngày 29/6/1968, Trung đội 1 và một tiểu đội của Trung đội 2, Đại đội 10, Tiểu đoàn 3 dưới sự chỉ huy của Đại đội phó, Anh hùng, liệt sĩ Phạm Ngọc Khánh đã tập kích địch ở điểm cao 689. Trong trận này, mặc dù ta đã tiêu diệt nhiều địch, phá hủy được số lượng lớn trang thiết bị, cơ sở vật chất của chúng nhưng do lực lượng chúng quá mạnh, Tiểu đoàn 3 - Tam Đảo đã hy sinh 13 người, bị thương 6 người. Rút kinh nghiệm sau trận này, Tiểu đoàn đã mở đợt tấn công quyết định, buộc địch phải rút lui khỏi Khe Sanh, giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn”.
Từ Khe Sanh đến Thành cổ Quảng Trị
Trong những năm tham gia kháng chiến, ông Hợi có thói quen ghi nhật ký hàng ngày và cuốn sổ đó đã được ông trân trọng giữ gìn. Những kỷ niệm về một thời gian khổ, ác liệt được ông đưa vào tập “Nhật ký Nguyễn Văn Hợi: Từ Khe Sanh đến Thành cổ Quảng Trị” ghi lại những khoảnh khắc ông cùng động đội chiến đấu trên chiến trường và những kỷ niệm khó quên. Cầm trên tay cuốn nhật ký, đọc những dòng ghi chép chân thực, chúng tôi hiểu rõ hơn về cuộc sống, chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn trăm bề của người chiến sĩ nơi chiến trường; sự khốc liệt của chiến tranh, những hy sinh, mất mát và những chiến công vang dội của quân đội ta trước Đế quốc xâm lược. Không chỉ có giá trị lịch sử, cuốn nhật ký còn có tác dụng hữu ích như một tài liệu giáo dục truyền thống lịch sử, tài liệu tham khảo huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật, giảng dạy bộ môn công tác đảng, công tác chính trị trong các đơn vị, nhà trường trong và ngoài quân đội.
Ngày 1 tháng 5 năm 1968
Đường hành quân hôm nay có lẽ khó khăn, gian khổ hơn tất cả những con đường mà chúng tôi đã đi qua. Phải liên tục vượt qua những ngọn núi đá vôi cao chót vót của miền Tây Quảng Bình. Dốc thì dựng đứng, đá tai mèo nhọn hoắt. Nhiều khe đá chỉ vừa lọt một thân người, phải lựa mãi cái ba lô mới lọt được qua. Cuối cùng là phải vượt qua 2 cái thang gỗ. Lúc này người tôi muốn xịu xuống. Khát nước đến cháy cổ. Mồ hôi đổ ra như tắm. Vượt qua 2 cái thang, có lẽ người vừa bị cảm nên thấy mình run lên bần bật. Anh em ai cũng động viên nhau cố gắng vượt qua.
Ngày 26 tháng 6 năm 1968
Cùng đơn vị lên chốt trên cao điểm 622, ở mặt trận Khe Sanh này chắc sẽ khó quên lắm. Những cái tên Tà Cơn, làng Vây, Khe Sanh và bao cái tên khác của miền Tây Quảng Trị, cách đây vài tháng thôi nó còn có vẻ xa lạ, khiến chúng tôi ước ao sớm được đến với nó. Giờ đây ước mơ đó đã thành sự thật. Tôi đã trở thành một chiến sĩ giải phóng quân, người chiến sĩ đang ngày đêm cùng đơn vị vây ép quân Mỹ ở 689. Những tên Mỹ nào liều lĩnh ra khỏi hầm, lập tức bị súng bắn tỉa và cối 82 của chúng tôi tiêu diệt.
Bom đạn L19, VO10 và B52 đối với chúng tôi bây giờ quen thuộc lắm rồi. Những tối lên chốt cùng đại đội trưởng, nghe tiếng cắt gió của đạn cối, đạn pháo không còn bị hoảng loạn như những ngày đầu. Những lúc như thế, cảm thấy mình lớn lên nhiều. Đêm cuối tháng ngồi bên sườn hố bom Mỹ trên đỉnh 622, đếm sao rơi và quan sát động tĩnh của lính Mỹ trên 689, nghe gió nồm nam thổi bỗng thấy xôn xao.
Ngày 1 tháng 7 năm 1968
Trời vừa sáng, sau khi đưa thương binh ra, Hợi (Trung đội 3) quay vào mang lệnh của tiểu đoàn cho đại đội rút ra nhưng chỉ có bộ đội là rút ra kịp còn ban chỉ huy đại đội bị kẹt lại ở chân 689 (Sở chỉ huy đại đội có tôi, đại đội trưởng, hai đồng chí thông tin 2 oát và đồng chí Điệt, trinh sát). Ngụy trang lại công sự lần cuối, tôi và đại đội trưởng ngồi thụt xuống công sự. Hố đào vội nên quá chật, duỗi chân ra không được, pháo của địch lại bắn liên tục quanh công sự. Cối cá nhân và đại liên của địch trên 689 bắn xuống như vãi đạn.
Ngẩng đầu lên tôi thấy bọn Mỹ ra ngoài rất đông. Chúng chỉ trỏ xuống phía trận địa của tôi. Cơm lại không có, đói quá. Xin hai đồng chí thông tin được ít gạo rang, tôi và đại đội trưởng ngồi thụp xuống ăn. Chỉ mong sao trời mưa cho trận địa khỏi bị lộ. Lúc gần 11 giờ trưa, chiếc L19 bay quần đảo có đến gần 30 phút trên đầu, rồi bất ngờ chúc lao xuống phóng một quả pháo khói. Bỗng tiểu liên cực nhanh của Mỹ nổ ran quanh công sự. Tình thế gay go rồi. Năm anh em chúng tôi đã lọt vào vòng vây của Mỹ rồi hay sao?
Đại đội trưởng nói nhỏ với tôi phải bình tĩnh, đợi nó đến thật gần hãy nổ súng. Nói dứt lời, đại đội trưởng bật khỏi công sự, định trườn lại công sự phía sau, nhưng không kịp. Một toán Mỹ đã phát hiện được và lập tức nổ súng. Đại đội trưởng bị thương vào mặt, máu chảy đầm đìa. Ứa nước mắt vì căm thù, tôi vừa quay lại thì ngay công sự đã có hai thằng Mỹ lù lù rồi (chỉ cách công sự trên dưới 3m) tôi kịp xiết cò hai loạt ngắn. Hai tên Mỹ rống lên như trâu bị chọc tiết, ngã đổ vật trước công sự của tôi. Lúc này nghe thấy tiếng súng AR15 mới thấy lực lượng địch đông hơn chúng tôi gấp bội, mà lúc đó đại đội trưởng lại bị thương, cùng với cái hầm máy 2 oát. Suy nghĩ một lát tôi bật dậy khỏi công sự, trườn về phía Đại đội trưởng Sơn thì anh không còn ở đó. Bọn Mỹ đã trông thấy tôi, chúng bắn như đổ đạn về phía công sự. Tôi ném liền hai quả lựu đạn về phía địch rồi bật dậy khỏi công sự lăn tròn xuống chân cao điểm trước sự bất ngờ và ngỡ ngàng của địch...
Ngày 10/7/1972
Mờ sáng, cả Tiểu đoàn vượt sông Thạch Hãn, qua cổng phía Tây vào chốt giữ Thành cổ Quảng Trị. Ngay từ những ngày đầu tiên vào thành, cả đơn vị phải hứng chịu một lượng bom khổng lồ dội xuống. Tất cả các đại đội, các phân đội trực thuộc phải xây dựng hầm hào chiến đấu dưới mưa bom, bão đạn của kẻ thù, quyết tâm giữ vững Thành cổ với phương châm “K3 – Tam Đảo còn thì Thành cổ Quảng Trị còn”. 81 ngày đêm, bằng lòng quả cảm, bằng tinh thần xả thân vì Tổ quốc, bằng sự hy sinh anh dũng, kiên cường chiến đấu của hàng trăm chiến sỹ, Thành cổ Quảng Trị đã được giữ vững. Với thành tích đặc biết xuất sắc đó, Tiểu đoàn 3 đã được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; nhiều đồng chí, đồng đội được phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Dũng sỹ diệt Mỹ và nhiều phần thưởng cao quý khác.....
Trở về đời thường với quân hàm thượng sỹ, người trợ lý quân lực của Tiểu đoàn năm xưa, mang trên mình thương tật hạng ¼ đã xây dựng gia đình và nuôi dạy con cái khôn lớn, trưởng thành. Hiện ông đang cư trú tại thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định và là Trưởng Ban liên lạc Tiểu đoàn K3 - Tam Đảo, bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị. Về thăm quê hương, xúc động trước sự thay da đổi thịt của mảnh đất chôn rau cắt rốn, ông chia sẻ: “Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc bây giờ đổi mới và phát triển hơn xưa rất nhiều, đẹp và hiện đại quá. Trong kí ức của tôi, thị xã Vĩnh Yên còn nhỏ bé lắm. Cả thị xã ngày ấy chỉ có cái sân bóng đá là to nhất còn lại là vài con phố nhỏ. Sự phát triển của tỉnh cũng là niềm vui, niềm hạnh phúc của những người con Vĩnh Phúc dù ở bất cứ nơi đâu”



