Lấy lại ánh triêu dương
Giữa những trang sử vàng chói lọi của dân tộc Việt Nam, có một chiến thắng đã vượt qua khuôn khổ của một trận đánh để trở thành biểu tượng của ý chí quật cường: chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Đó là nơi núi rừng Tây Bắc rung chuyển bởi tiếng pháo, nơi những con người bình dị đã hóa thành những anh hùng bất tử, nơi tuổi trẻ của biết bao chàng trai đã được gửi gắm vào lời thề “quyết chiến – quyết thắng”.
Dù hơn bảy thập kỷ đã trôi qua, mỗi khi nhắc đến Điện Biên Phủ, người Việt Nam vẫn cảm thấy lòng mình rộn lên niềm tự hào và biết ơn vô hạn đối với thế hệ đi trước.
Trong số những con người đã góp phần làm nên chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” ấy, có ông Đỗ Cao Phủng, sinh năm 1932, quê ở Tân Dân – Khoái Châu – Hưng Yên. Câu chuyện đời lính của ông không chỉ là một lát cắt của lịch sử, mà còn là tấm gương phản chiếu tinh thần kiên cường, giản dị mà vĩ đại của người lính Điện Biên. Hồi ức của ông đưa ta trở về những ngày tháng gian khổ nhưng chan chứa niềm tin, giúp ta cảm nhận rõ hơn không khí hào hùng của một thời máu lửa đã làm nên vận mệnh dân tộc.
Hành trình lên Tây Bắc - Bước chân của người lính trẻ
Khi mới ngoài hai mươi tuổi, ông theo đơn vị hành quân lên chiến trường Tây Bắc. Điện Biên Phủ, thời điểm đó là một vùng thung lũng rộng lớn, chỉ có một phía giáp Lào. Ông vẫn nhớ rất rõ cánh đồng Mường Thanh bạt ngàn lúa nếp thơm và dẻo – nơi bộ đội từng dừng chân ăn cơm giữa những ngày gian khó.
Năm 1950, miền Tây Bắc được giải phóng, nhưng ba năm sau, quân Pháp quay lại, xây dựng tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương. Không chấp nhận để quân thù chiếm đóng quê hương, ông Phủng và các đồng đội lại một lần nữa quyết tâm trở về Điện Biên, tham gia trận đánh “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.
Giai đoạn 1953 – 1954, trong ký ức của ông lực lượng của ta còn non trẻ. Vũ khí thiếu thốn, đường hành quân hiểm trở, thời tiết khắc nghiệt. Nhưng ông Phủng nhớ hơn tất thảy chính là hình ảnh dân công hỏa tuyến – những người nông dân gùi trên vai hàng chục ký gạo, đạn, thuốc men – lặng lẽ đi trong đêm để tiếp tế cho bộ đội. Sự đoàn kết của dân ta khiến cho những người anh hùng trên chiến trường bỗng cảm thấy ấm lòng hơn bao giờ hết, nỗi khao khát dành lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân ta ngày càng mãnh liệt. Để chuẩn bị cho chiến dịch, bộ đội phải kéo pháo vào rồi lại kéo pháo ra khi quyết định chuyển phương châm sang “đánh chắc –tiến chắc”.
Hình ảnh bộ đội ta kéo pháo khi quyết định chuyển đổi kế hoạch
( nguồn: Báo quân đội nhân dân )
Những con dốc dựng đứng, bùn đất trơn trượt, dây kéo cắt vào tay rớm máu… nhưng không ai nản chí. Trong ký ức của ông, đó là những ngày mà ý chí của người lính Việt Nam trở nên sắc bén nhất.
QUYẾT TÂM CỦA BỘ CHỈ HUY – TINH THẦN “ĐÁNH CHẮC – TIẾN CHẮC”
Ông kể lại rằng trước giờ nổ súng, từng đơn vị được quán triệt chủ trương của Đảng:
“Hoàn thành chiến dịch trong hai tháng – đánh thắng từng bước, đánh chắc thắng chắc.”
Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp thị sát từng điểm cao, từng chiến hào, cân nhắc từng quyết định.
Buổi tối cuối cùng trước trận mở màn, Đại tướng đi kiểm tra và động viên từng đơn vị. Lời dặn của ông – ngắn gọn nhưng đầy sức mạnh – đã tiếp thêm lửa quyết tâm cho toàn chiến trường.
Đêm nổ súng, quân ta đã đào hào áp sát chỉ còn cách địch 100 mét
Hình ảnh quân ta đào hào xây dựng trận địa ở Điện Biên Phủ
(nguồn: Báo quân đội nhân dân)
Khi tiếng lệnh vang lên, pháo ta đồng loạt trút xuống sân bay Mường Thanh, xuống các điểm phòng ngự trọng yếu. Ánh lửa bừng sáng cả bầu trời Tây Bắc. Ông Phủng nhớ những khoảnh khắc ấy như nhìn thấy lại: tiếng pháo rung rền đất trời, tiếng súng nổ, tiếng hô xung phong vang vọng khắp núi rừng. Cái cảnh quân địch choáng váng, không kịp trở tay trước tình cảnh đấy.
Một trong những trận đánh ông nhớ nhất là trận đánh ở đồi A1. Do địch cố thủ quá mạnh, Sư đoàn 312 xin phép Đại tướng cho đào một đường hầm dài hơn 500 mét, đưa quả bộc phá cực lớn vào lòng đất dưới chân địch. Trong đường hầm tối om chỉ có ánh nến leo lét, những người lính trẻ mình trần đào đất, chuyển từng hòm thuốc nổ. Không ai nghĩ đến nguy hiểm, chỉ có một niềm tin duy nhất: phải thắng.
Rạng sáng 7/5, khi mệnh lệnh nổ vang lên, mặt đất rung chuyển, đồi A1 bật tung, hệ thống phòng thủ của địch bị xé toạc. Quân ta lập tức xông lên tiêu diệt toàn bộ tuyến phòng ngự. Trận đánh ấy đã mở toang cánh cửa dẫn đến chiến thắng cuối cùng.
BA ĐỢT TẤN CÔNG – VÒNG VÂY NGÀY CÀNG SIẾT CHẶT
Đợt 1: Ngày 13/3/1954
Quân ta đánh chiếm những cứ điểm tiền tiêu, phá hủy sân bay, chia cắt hoàn toàn sự tiếp viện của địch.
Đợt 2: Bắt đầu từ ngày 30/3/1954
Tiếp tục đánh vào những vị trí hiểm yếu như A1, C1 – nơi địch củng cố vững nhất.
Những trận đánh này vô cùng ác liệt, nhưng cũng là bước then chốt để bẻ gãy sức kháng cự của chúng.
Hai đợt tấn công đầu do ông Đỗ Cao Phủng ghi chép lại (nguồn: trực tiếp tại nhà ông)
Đợt 3: Lệnh tổng tấn công từ 1/5/1954
Rạng sáng ngày 7/5/1954, quân ta chiếm được nóc hầm Đờ Cát. Tướng Christian de Castries cùng 16 sĩ quan bị bắt sống.
Đến 17 giờ, lá cờ chiến thắng tung bay trên bầu trời thung lũng. Điện Biên Phủ – nơi được mệnh danh là “pháo đài bất khả xâm phạm” – hoàn toàn thất thủ. Đó cũng là giây phút ông Phủng không bao giờ quên.
Lệnh tổng tấn công đợt 3 do ông Đỗ Cao Phủng ghi chép lại (nguồn: trực tiếp tại nhà ông)
GIỜ PHÚT LỊCH SỬ – ĐIỆN BIÊN PHỦ HOÀN TOÀN GIẢI PHÓNG
Khi lá cờ “Quyết chiến – Quyết thắng” được cắm trên nóc hầm chỉ huy, cả chiến trường như vỡ òa. Từ các chiến hào, hầm trú ẩn, những người lính – trong đó có ông Đỗ Cao Phủng – chạy ùa ra ôm lấy nhau. Nhiều người bật khóc, không phải vì đau thương mà vì hạnh phúc tột cùng. Họ biết rằng chiến thắng này không chỉ dành cho những người còn sống, mà còn cho cả những đồng đội đã ngã xuống trên mảnh đất đỏ lửa ấy.
DẤU ẤN MỘT ĐỜI NGƯỜI – TỪ TRẬN TUYẾN ĐẾN VĂN CHƯƠNG
Điều đặc biệt ở ông Đỗ Cao Phủng là dù chỉ được học đến lớp 4 rồi nghỉ học, ông lại có tài năng viết lách hơn người. Chữ ông đẹp, ngay ngắn như in; thơ ông làm mộc mạc mà sâu sắc, mang đậm tinh thần của một con người từng trải qua chiến tranh và thấm thía giá trị hòa bình.
Sau này, khi tuổi cao, ký ức Điện Biên Phủ vẫn là nguồn cảm hứng để ông sáng tác. Những vần thơ ông viết không chỉ để nhớ đồng đội đã hy sinh, mà còn để nhắc nhở thế hệ sau về một thời máu lửa mà thiêng liêng vô hạn. Chính vì những đóng góp ấy, năm vừa rồi, ông Tô Lâm đã đến tận nhà thăm ông Đỗ Cao Phủng. Trong buổi gặp gỡ đầy xúc động ấy, ông Tô Lâm đã tận tay tặng ông một quyển sách do chính mình viết – cuốn sách tường thuật lại hành trình giải phóng Điện Biên Phủ như một lời tri ân sâu sắc đến những người lính đã góp phần làm nên chiến thắng lịch sử.
Quyển sách chủ tịch nước Tô Lâm tặng ông Đỗ Cao Phủng năm 2024 (nguồn: trực tiếp tại nhà ông)
Khoảnh khắc ấy với ông Phủng không chỉ là niềm tự hào, mà còn là sự ghi nhận cho cả một đời chiến đấu và cống hiến lặng thầm. Đến cuối đời, ông Đỗ Cao Phủng vẫn luôn coi Điện Biên Phủ là niềm tự hào lớn nhất cuộc đời.
Trong những câu chuyện ông kể lại, người ta luôn cảm nhận được sự thiêng liêng của ký ức, sự trân trọng đối với đồng đội và niềm biết ơn sâu sắc với Tổ quốc.
Ông mong rằng thế hệ sau, mỗi khi nhớ về chiến thắng Điện Biên Phủ, sẽ hiểu rằng:
“Tự do hôm nay được trả bằng máu, bằng nước mắt và bằng cả tuổi xuân của biết bao người lính vô danh”.
Chúng em đã có cơ hội đến thăm ông và được ông kể lại về cuộc đời người lính đầy gian khổ của mình. Sau khi nghe xong, từ tận đáy lòng bản thân em biết ơn công lao, sự dũng cảm, kiên cường và bất khuất của những người lính xưa.



