Anh hùng Lực lượng vũ trang

Lê Duẩn (1)

đồng chí Lê Duẩn là một tấm gương chói ngời về phấn đấu hy sinh cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, cho lý tưởng cộng sản. Gần 60 năm hoạt động cách mạng, đồng chí đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Quảng Ninh25/03/2026Nguyễn Trọng Quyết (ĐTN Công ty CP than Vàng Danh-Vinacomin)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tổng Bí thư Lê Duẩn (1907-1986). Tháng 4-1938, theo quyết định của Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương (tháng 3-1938), Xứ ủy Trung Kỳ được lập lại do đồng chí Nguyễn Chí Diểu làm Bí thư. Cuối năm 1938, đồng chí Nguyễn Chí Diểu lâm bệnh nặng rồi mất[2], đồng chí Lê Duẩn được cử làm Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ[3]. Hoạt động tích cực của đồng chí Lê Duẩn góp phần quan trọng đưa tới cao trào đấu tranh sôi nổi trong cả nước.Năm 1939, đồng chí Lê Duẩn được cử vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng và cuối năm đó đã cùng đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Tổng Bí thư của Đảng, chủ trì Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng[4]. Tại hội nghị này, Đảng quyết định thành lập Mặt trận phản đế Đông Dương thay Mặt trận Dân chủ Đông Dương, chuyển hướng cuộc đấu tranh cách mạng sang một thời kỳ mới.Rạng sáng ngày 17-1-1940, đồng chí Lê Duẩn và Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ bị mật thám bắt tại số nhà 312 đường Nguyễn Tấn Nghiệm (nay là đường Trần Đình Xu - Thành phố Hồ Chí Minh). Đồng chí bị kết án 5 năm tù giam, 10 năm quản thúc[5] và bị đày đi Côn đảo lần thứ hai cho đến khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, đồng chí được Đảng và Chính phủ đón về đất liền, tham gia cuộc kháng chiến ở Nam Bộ.Năm 1946, ra Hà Nội, đồng chí Lê Duẩn làm việc bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần cùng Trung ương Đảng chuẩn bị cuộc kháng chiến chống Pháp. Cuối năm 1946, đồng chí được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng cử vào lãnh đạo cuộc kháng chiến ở Nam Bộ. Tại Đại hội lần thứ II của Đảng năm 1951, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị. Từ năm 1946 đến năm 1954, với cương vị Bí thư Xứ ủy, rồi Bí thư Trung ương Cục miền Nam, đồng chí đã lãnh đạo Đảng bộ miền Nam tổ chức cuộc kháng chiến ở Nam Bộ và tiến hành cải cách ruộng đất trong các vùng giải phóng.Từ năm 1954 đến năm 1957, sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, đồng chí Lê Duẩn ở lại miền Nam để lãnh đạo phong trào cách mạng. Trong những năm tháng vô cùng khó khăn này, đồng chí đã sống trong lòng nhân dân, được quần chúng bảo vệ, từ những vùng nông thôn hẻo lánh đến trung tâm các thành phố để củng cố các cơ sở cách mạng, chuẩn bị cuộc chiến đấu chống Mỹ. Cũng trong thời gian này, đồng chí đã hoàn thành bản “Đề cương cách mạng miền Nam”[6]. Được đồng chí Lê Duẩn Bí thư Xứ ủy Nam Bộ chuẩn bị trong nhiều năm, nhất là vào cuối năm 1955 ở Cà Mau và Bến Tre; cuối cùng được đồng chí Lê Duẩn hoàn thành năm 1956 ở Sài Gòn[7]. Bản Đề cương cách mạng miền Nam, đề ra phương hướng phát triển của cách mạng miền Nam trong giai đoạn tiếp theo: “Để chống lại Mỹ - Diệm, nhân dân miền Nam chỉ có con đường cứu nước và tự cứu mình, là con đường cách mạng. Ngoài con đường cách mạng không có một con đường nào khác”[8].Năm 1957, Trung ương Đảng cử đồng chí Lê Duẩn lãnh đạo công việc chung của Đảng bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1960, tại Đại hội lần thứ III của Đảng, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương, đồng chí Lê Duẩn đã đọc Báo cáo chính trị, trong đó nêu ra hai chiến lược cách mạng: “Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà”[9]. Tại Đại hội này, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương, được bầu vào Bộ Chính trị, giữ chức Tổng Bí thư (Bí thư thứ nhất).

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn