Cựu chiến binh

LÊ ĐỨC ANH – VỊ TƯỚNG GẮN VỚI NHỮNG BƯỚC NGOẶT CỦA LỊCH SỬ DÂN TỘC

Quảng Ngãi06/10/2026Đoàn xã Hiệp Phước (Xã Hiệp Phước)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

LÊ ĐỨC ANH – VỊ TƯỚNG GẮN VỚI NHỮNG BƯỚC NGOẶT CỦA LỊCH SỬ DÂN TỘC

Có những người đi qua lịch sử bằng một trận đánh.

Có người được nhớ đến bởi một chiến dịch.

Nhưng cũng có những người xuất hiện ở nhiều bước ngoặt khác nhau của đất nước, từ những năm tháng đấu tranh giành độc lập, qua chiến tranh, đến công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc trong hòa bình.

Đại tướng Lê Đức Anh là một nhân vật như vậy.

Ông sinh ngày 1 tháng 12 năm 1920 tại tỉnh Thừa Thiên Huế, quê quán ở xã Lộc An, huyện Phú Lộc. Năm 1937, khi mới 17 tuổi, ông bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng. Một năm sau, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Đó là những năm đất nước vẫn đang sống dưới chế độ thuộc địa.

Đối với một thanh niên khi ấy, lựa chọn tham gia cách mạng đồng nghĩa với việc bước vào một con đường nhiều thử thách.

Lê Đức Anh đã lựa chọn con đường ấy.

Những năm đầu hoạt động, ông được giao công tác trong phong trào công nhân, sau đó từng bước trưởng thành qua thực tiễn đấu tranh.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông tham gia lực lượng vũ trang và bắt đầu một chặng đường dài gắn bó với quân đội.

Từ một cán bộ trẻ, ông từng bước đảm nhiệm nhiều vị trí chỉ huy.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông hoạt động ở Nam Bộ, từng giữ các chức vụ từ trung đội trưởng, chính trị viên đến tham mưu trưởng tại nhiều đơn vị và chiến trường.

Những năm tháng ấy tạo cho ông kinh nghiệm đặc biệt về chiến trường Nam Bộ.

Sau năm 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt.

Cuộc đấu tranh ở miền Nam bước sang một giai đoạn mới.

Lê Đức Anh được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng trong công tác quân sự.

Ông từng giữ chức Cục phó Cục Tác chiến, Cục trưởng Cục Quân lực thuộc Bộ Tổng Tham mưu, sau đó là Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Đến năm 1964, ông được điều vào miền Nam, giữ chức Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Đây là thời kỳ chiến tranh ngày càng diễn ra ác liệt.

Một người làm công tác chỉ huy không chỉ cần lòng dũng cảm.

Họ còn phải biết đánh giá tình hình, tổ chức lực lượng, lựa chọn phương án và dự đoán những diễn biến có thể xảy ra.

Lê Đức Anh trưởng thành trong chính những hoàn cảnh như vậy.

Ông tham gia chỉ đạo và tổ chức nhiều hoạt động quân sự quan trọng.

Trong đó có Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, cuộc tiến công chiến lược năm 1972 và những hoạt động quân sự dẫn đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1975.

Mỗi chiến dịch đều đặt ra những yêu cầu khác nhau.

Nhưng mục tiêu lớn nhất vẫn là tạo ra những bước chuyển quyết định trên chiến trường.

Đến năm 1974, tình hình chiến trường miền Nam có những thay đổi quan trọng.

Lê Đức Anh được giao nhiệm vụ Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam.

Năm 1975, ông giữ cương vị Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh, kiêm Tư lệnh Binh đoàn cánh Tây Nam.

Đây là một trong năm hướng tiến công chủ yếu vào Sài Gòn trong chiến dịch quyết định cuối cùng của cuộc chiến.

Những ngày tháng Tư năm 1975 trở thành một trong những thời khắc đặc biệt nhất trong cuộc đời của ông.

Từ nhiều hướng, các lực lượng tiến về Sài Gòn.

Mục tiêu của chiến dịch là tạo ra thắng lợi quyết định, kết thúc chiến tranh và mở ra thời kỳ thống nhất đất nước.

Ở hướng Tây Nam, lực lượng do Lê Đức Anh chỉ huy đảm nhiệm một nhiệm vụ quan trọng.

Những ngày ấy, mọi quyết định về tổ chức lực lượng, phối hợp tác chiến và tiến quân đều có ý nghĩa rất lớn.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, chiến dịch kết thúc thắng lợi.

Miền Nam được giải phóng.

Đất nước bước vào thời kỳ thống nhất.

Đối với Lê Đức Anh, chiến thắng ấy đánh dấu một bước ngoặt lớn.

Nhưng lịch sử lại đặt trước ông một nhiệm vụ mới.

Chiến tranh kết thúc không có nghĩa là nhiệm vụ bảo vệ đất nước đã chấm dứt.

Sau năm 1975, Lê Đức Anh tiếp tục được giao nhiều trọng trách trong quân đội.

Ông trở thành Tư lệnh Quân khu 9, sau đó là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7, đồng thời đảm nhiệm nhiệm vụ chỉ huy tại mặt trận Tây Nam.

Trong giai đoạn cuối những năm 1970, đất nước phải đối mặt với tình hình phức tạp ở biên giới Tây Nam.

Lê Đức Anh tham gia chỉ huy lực lượng bảo vệ biên giới và thực hiện nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia.

Năm 1981, ông được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia.

Đây là một giai đoạn rất khác với cuộc chiến tranh trước đó.

Nhiệm vụ lúc này vừa liên quan đến bảo vệ biên giới của Việt Nam, vừa liên quan đến việc giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng và từng bước khôi phục cuộc sống.

Lê Đức Anh cùng các lực lượng Việt Nam và Campuchia tham gia cuộc đấu tranh chống chế độ Khmer Đỏ.

Sau khi chế độ diệt chủng bị lật đổ, một nhiệm vụ khó khăn khác lại xuất hiện:

Làm sao giúp một đất nước đã bị tàn phá nặng nề có thể từng bước hồi sinh?

Theo tư liệu của Bộ Quốc phòng, ông đặc biệt quan tâm đến việc cứu đói, chăm sóc người dân, khôi phục sản xuất và giúp Campuchia xây dựng lực lượng để từng bước tự đảm đương công việc của mình.

Những năm tháng ấy cho thấy chiến tranh và hòa bình đôi khi nối tiếp nhau bằng một ranh giới rất mong manh.

Đánh thắng một cuộc chiến đã khó.

Khôi phục cuộc sống sau chiến tranh còn là một nhiệm vụ lâu dài.

Lê Đức Anh tiếp tục giữ nhiều trọng trách trong quân đội.

Năm 1986, ông được bổ nhiệm làm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Đến năm 1987, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Đất nước lúc này bước vào công cuộc Đổi mới.

Kinh tế còn nhiều khó khăn.

Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc phải được đặt trong mối quan hệ với nhiệm vụ phát triển đất nước.

Một quân đội mạnh cần phù hợp với điều kiện thực tế.

Một nền quốc phòng vững chắc cũng cần được xây dựng trên cơ sở một đất nước có nền kinh tế ngày càng phát triển.

Trên cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Lê Đức Anh cùng tập thể lãnh đạo quân đội tham gia hoạch định những chủ trương về xây dựng lực lượng, điều chỉnh thế trận quốc phòng và bảo vệ biên giới, biển đảo.

Đây là một trong những giai đoạn cho thấy rõ sự thay đổi trong tư duy của người lãnh đạo quân sự.

Nếu trong chiến tranh, nhiệm vụ hàng đầu là giành thắng lợi trên chiến trường, thì trong thời bình, nhiệm vụ lại là xây dựng một nền quốc phòng đủ mạnh để giữ được hòa bình.

Năm 1992, Lê Đức Anh được Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Ông giữ cương vị này đến tháng 12 năm 1997.

Từ một người lính trưởng thành qua chiến trường, ông bước sang một vai trò mới ở cấp cao nhất của Nhà nước.

Công việc lúc này không còn chỉ là những vấn đề quân sự.

Đó còn là đối ngoại, xây dựng đất nước, quan hệ quốc tế và bảo vệ lợi ích quốc gia trong một thế giới đang có nhiều thay đổi.

Đặc biệt, thập niên 1990 là thời kỳ Việt Nam từng bước mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập với khu vực, quốc tế.

Với cương vị Chủ tịch nước, Lê Đức Anh tham gia nhiều hoạt động đối ngoại quan trọng, góp phần thúc đẩy quan hệ của Việt Nam với các nước.

Một con người đã trải qua chiến tranh giờ đây lại tham gia vào công việc xây dựng quan hệ hòa bình.

Đó có lẽ là một trong những chuyển biến đáng chú ý nhất trong cuộc đời ông.

Từ chiến trường đến bàn ngoại giao.

Từ nhiệm vụ chiến đấu đến nhiệm vụ xây dựng.

Từ một người chỉ huy quân sự đến người đứng đầu Nhà nước.

Nhưng dù ở vị trí nào, một điểm xuyên suốt trong cuộc đời Lê Đức Anh vẫn là ý thức về trách nhiệm đối với đất nước.

Ngày 22 tháng 4 năm 2019, Đại tướng Lê Đức Anh qua đời tại Hà Nội, hưởng thọ 99 tuổi.

Ông để lại một cuộc đời hoạt động cách mạng kéo dài hơn tám thập kỷ.

Từ năm 1937, khi mới 17 tuổi, đến những năm cuối đời, cuộc đời ông gắn với nhiều giai đoạn lớn của lịch sử Việt Nam thế kỷ XX.

Từ cuộc đấu tranh giành độc lập.

Đến Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Từ nhiệm vụ bảo vệ biên giới.

Đến công cuộc xây dựng đất nước.

Từ vị trí người lính.

Đến cương vị Chủ tịch nước.

Đó là một hành trình rất dài.

Nhưng điều người trẻ hôm nay có thể học được từ câu chuyện ấy không nhất thiết nằm ở những chiến công quân sự.

Đó còn là khả năng thích ứng với yêu cầu của từng thời đại.

Mỗi thế hệ đều có một nhiệm vụ của mình.

Thế hệ trước đã phải chiến đấu để giành và giữ độc lập.

Thế hệ hôm nay không sống trong hoàn cảnh ấy.

Nhiệm vụ của người trẻ bây giờ là học tập, sáng tạo, làm chủ khoa học – công nghệ, giữ gìn văn hóa và xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn.

Một đất nước muốn phát triển cần những người trẻ có kiến thức.

Muốn giữ vững hòa bình cần những con người có trách nhiệm.

Muốn đi xa trong tương lai cần những thế hệ biết nhìn về phía trước nhưng không quên lịch sử.

Câu chuyện Lê Đức Anh vì thế có thể được nhìn như một hành trình từ chiến đấu đến xây dựng, từ bảo vệ đất nước đến góp phần tạo dựng môi trường hòa bình để đất nước phát triển.

Lịch sử của một dân tộc không chỉ được tạo nên bởi những thời khắc vang dội.

Nó còn được tạo nên bởi hàng chục năm kiên trì làm việc, học hỏi, tổ chức và chịu trách nhiệm trước những nhiệm vụ mà đất nước giao phó.

Và đó cũng là điều tuổi trẻ hôm nay có thể tiếp nối:

Biết trân trọng hòa bình, nghiêm túc học tập, rèn luyện bản lĩnh, sống có trách nhiệm và dùng khả năng của mình để góp phần xây dựng quê hương, đất nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
LÊ ĐỨC ANH – VỊ TƯỚNG GẮN VỚI NHỮNG BƯỚC NGOẶT CỦA LỊCH SỬ DÂN TỘC | Câu chuyện thời hoa lửa