LÊ HỒNG PHONG NGƯỜI LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG KIÊN TRUNG BẤT KHUẤT
Lê Hồng Phong được đánh giá là một trong những cán bộ lãnh đạo quan trọng của cách mạng Việt Nam thời kỳ đầu. Ông có đóng góp lớn trong việc khôi phục tổ chức Đảng, xây dựng cơ quan lãnh đạo Trung ương và đào tạo cán bộ, đồng thời góp phần đưa phong trào cách mạng Việt Nam gắn với phong trào cộng sản quốc tế. Ông cũng được biết đến với tinh thần kiên trung, bất khuất trước sự đàn áp của thực dân Pháp. Cuộc đời và sự hy sinh của ông trở thành biểu tượng về lòng yêu nước và ý chí cách mạng.
Lê Hồng Phong (1902–1942), tên thật là Lê Huy Doãn, là một nhà cách mạng Việt Nam tiêu biểu, từng giữ chức Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương (1935–1936) và là Ủy viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản.
Sinh ngày 6/9/1902, tại làng Đông Thôn, tổng Thông Lạng, nay thuộc xã Hưng Thông, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Ông xuất thân trong một gia đình nông dân.
Năm 1924: Ông sang Xiêm (Thái Lan), sau đó đến Quảng Châu (Trung Quốc), tham gia Tâm Tâm Xã và gặp Nguyễn Ái Quốc. Từ đây, ông được giác ngộ và đi theo con đường cách mạng.
Năm 1925: gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tham gia lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc phụ trách; sau đó học tại Trường Quân sự Hoàng Phố và Trường Hàng không Quảng Châu. 1926–1931: ông sang Liên Xô học quân sự, hàng không và lý luận cách mạng; tốt nghiệp Trường Đại học Cộng sản của những người lao động phương Đông.
Cuối năm 1931: ông trở về hoạt động, góp phần quan trọng vào việc khôi phục hệ thống tổ chức và cơ quan lãnh đạo của Đảng sau thời kỳ bị thực dân Pháp đàn áp.
Tháng 3/1935: tại Đại hội lần thứ I của Đảng Cộng sản Đông Dương ở Ma Cao, ông được bầu làm Tổng Bí thư. Cùng năm, ông dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng tham dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản tại Moskva và được bầu vào Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản.
Năm 1936: ông triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng tại Thượng Hải, góp phần chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, mở ra thời kỳ đấu tranh dân chủ 1936–1939.
Năm 1940: ông bị thực dân Pháp bắt và bị giam cầm, sau đó đày ra nhà tù Côn Đảo. Dù bị tra tấn và đối xử hà khắc, ông vẫn giữ vững ý chí cách mạng. Mất: ngày 6/9/1942, tại Côn Đảo, đúng ngày ông tròn 40 tuổi.



