LÊ HỒNG PHONG – TRÁI TIM KIÊN TRUNG TRÊN ĐẢO NGỤC VÀ LỜI THỀ KHÔNG BAO GIỜ PHẢN BỘI
Trở thành vị phi công quân sự đầu tiên của cách mạng Việt Nam, trải qua bao trường lớp huấn luyện cam go ở nước ngoài rồi đảm nhận trọng trách Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí Lê Hồng Phong đã dâng trọn tuổi xuân cho độc lập dân tộc. Giữa lao tù Côn Đảo khắc nghiệt, câu nói trăn trối cuối cùng của ông trước khi trút hơi thở cuối cùng vẫn vang vọng như một bản hùng ca bất tử về khí tiết kiên trung.
Trong dòng chảy lịch sử cách mạng Việt Nam, tên tuổi Tổng Bí thư Lê Hồng Phong luôn đọng lại trong lòng thế hệ sau như một biểu tượng trọn vẹn của trí tuệ, bản lĩnh và lòng trung thành vô hạn với Tổ quốc. Sinh năm 1902 tại vùng đất nghèo Hưng Thông, huyện Hưng Nguyên (Nghệ An) – nơi đúc kết nên những con người quật cường – ông sớm nuôi trong mình chí lớn cứu nước.
Từ năm 1924, người thanh niên xứ Nghệ rời quê hương dấn thân vào con đường cách mạng. Ông trở thành học trò ưu tú của Nguyễn Ai Quốc, được cử sang học tại Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc), rồi tiếp tục đào tạo chuyên sâu tại Trường Không quân Quảng Châu và các trường lý luận, không quân kiệt xuất ở Liên Xô. Ông chính là một trong những cán bộ quân sự, phi công đầu tiên của cách mạng Việt Nam.
Năm 1935, ông được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Đông Dương. Trên con đường vạn dặm đầy chông gai ấy, hạnh phúc lớn nhất của ông là được duyên số tác thành cùng đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai – một nữ chiến sĩ cách mạng kiên trung. Hai tâm hồn lớn cùng chung lý tưởng, sát cánh bên nhau qua biết bao hiểm nguy từ Trung Quốc, Liên Xô cho đến vùng đất Sài Gòn – Chợ Lớn rực lửa. Chiến tranh và ngục tù rình rập, những cuộc chia ly vội vã chỉ kịp trao nhau ánh nhìn ấm áp rồi lại lao vào công cuộc cứu nước.
Cuối năm 1940, thực dân Pháp bắt ông lần thứ hai rồi đày ra nhà tù Côn Đảo – "địa ngục trần gian" giữa đại dương. Biết ông là lãnh đạo cao cấp của Đảng, kẻ thù tập trung những đòn tra tấn dã man nhất nhằm đè bẹp ý chí. Những trận đòn roi tàn khốc, cơm ngô trộn trấu cùng không khí ẩm thấp của phòng giam cô lập dần bào mòn sức khỏe của ông.
Ngày 6 tháng 9 năm 1942, giữa xà kle ngục tối Côn Đảo, trước khi kiệt sức và trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 40, ông nắm chặt tay các đồng chí cùng bị giam gượng dặn lại một câu trăn trối thiêng liêng: – "Xin các đồng chí hãy chuyển lời đến Đảng rằng, Lê Hồng Phong không bao giờ phản bội và tin tưởng hoàn toàn vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng!"
Lời thề ấy đã thắp sáng cả ngục tối Côn Đảo, tiếp thêm sức mạnh cho hàng vạn người tù cách mạng vững tin chiến đấu cho đến ngày đất nước hoàn toàn tự do. Chỉ một thời gian ngắn sau, người bạn đời Nguyễn Thị Minh Khai của ông cũng ngã xuống trước họng súng kẻ thù tại Hóc Môn, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho đồng bào.
Hôm nay, chiến tranh đã lùi xa, nhưng di sản của Tổng Bí thư Lê Hồng Phong vẫn sống mãi với thời gian. Khu lưu niệm mang tên ông tại Hưng Nguyên (Nghệ An) vẫn lặng lẽ đón những đoàn người về thắp hương tưởng niệm. Tên ông được trang trọng đặt cho những mái trường chuyên nổi tiếng khắp miền Bắc, Trung, Nam – nơi những thế hệ tương lai đang tiếp nối ngọn lửa kiên trung, trí tuệ mà ông đã thắp lên bằng cả cuộc đời mình.



