Lê Hữu Trạc – Người lính giữ đảo Cồn Cỏ
Nhân chứng: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Hữu Trạc Sinh thời: 1939? Vai trò: Người lính bảo vệ Cồn Cỏ. Năm 1962, chàng thanh niên Lê Hữu Trạc nhập ngũ. Ông được biên chế vào Đại đội Lê Hồng Phong, Tiểu đoàn 4, Sư đoàn 341, đóng tại Vĩnh Linh, Quảng Trị và thực hiện nhiệm vụ bảo vệ giới tuyến. Đến năm 1965, chiến tranh bước vào giai đoạn đặc biệt ác liệt. Cồn Cỏ lúc đó có vị trí chiến lược quan trọng và được gọi là “mắt thần” của miền Bắc. Đảo trở thành mục tiêu đánh phá của máy bay và tàu chiến Mỹ. Trong tình hình ấy, đơn vị Lê Hồng Phong được lệnh đưa một trung đội ra đảo Cồn Cỏ. Lê Hữu Trạc cùng những người lính khác bước vào một nhiệm vụ cực kỳ nguy hiểm: giữ đảo trong điều kiện liên tục phải đối mặt với bom đạn. Cuộc chiến trên Cồn Cỏ không chỉ là chuyện giữ một hòn đảo. Đó còn là cuộc đấu tranh về ý chí: đảo nhỏ nhưng có ý nghĩa chiến lược, và những người lính trên đảo phải giữ vững vị trí dù bị đánh phá liên tục. Sau nhiều năm chiến đấu, Lê Hữu Trạc trở thành Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Đến tuổi cao, ông vẫn mang trong mình ký ức của những năm tháng ở Cồn Cỏ. Câu chuyện của ông cho thấy một khía cạnh khác của “thời hoa lửa”: những người lính trẻ phải sống giữa biển đảo, bom đạn và nguy hiểm trong nhiều năm để giữ từng vị trí chiến lược của đất nước.
Lê Hữu Trạc – Gần 1.000 ngày giữ đảo Cồn Cỏ
Nhân chứng: Lê Hữu Trạc
Năm sinh: 1941
Quê quán: Xuân Dục, Xuân Ninh, Quảng Bình.
Thời kỳ: Kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Địa bàn chính: Vĩnh Linh, Quảng Trị – đảo Cồn Cỏ.
Thời gian chính: 1962–1968.
Tuổi trẻ và con đường nhập ngũ:
Lê Hữu Trạc sinh năm 1941 tại thôn Xuân Dục, xã Xuân Ninh, huyện Quảng Ninh, Quảng Bình. Tuổi thơ của ông đã gắn với chiến tranh. Cha ông bị quân Pháp giết hại, vì vậy hoàn cảnh gia đình khiến ông phải nghỉ học sau lớp 5 để ở nhà giúp mẹ.
Năm 1962, khi vừa bước qua tuổi 20, Lê Hữu Trạc nhập ngũ. Ông được biên chế vào Đại đội Lê Hồng Phong, Tiểu đoàn 4, Sư đoàn 341, đóng quân ở Vĩnh Linh, Quảng Trị. Đơn vị có nhiệm vụ bảo vệ khu vực giới tuyến 17.
Những năm đầu trong quân ngũ, ông chiến đấu ở vùng Vĩnh Linh. Đây là khu vực nằm sát giới tuyến nên thường xuyên chịu bom đạn khi Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc.
Xung phong ra đảo Cồn Cỏ:
Năm 1965, chiến tranh ngày càng ác liệt. Đảo Cồn Cỏ trở thành một vị trí đặc biệt quan trọng, được gọi là "mắt thần trên biển" của miền Bắc. Máy bay và tàu chiến Mỹ liên tục đánh phá đảo.
Đại đội Lê Hồng Phong nhận lệnh lựa chọn một trung đội ra Cồn Cỏ chiến đấu.
Theo kế hoạch ban đầu, các đơn vị sẽ luân phiên giữ đảo khoảng hai tháng. Thế nhưng lúc ấy rất nhiều người lính đều muốn được ra đảo.
Lê Hữu Trạc khi đó là Trung đội phó kiêm Bí thư Chi bộ. Ông nghĩ cách để trung đội của mình thể hiện quyết tâm. Ông đề xuất toàn bộ 30 người trong trung đội cạo trọc đầu.
Lý do nghe có vẻ đơn giản nhưng lại rất thực tế: trên đảo thiếu nước ngọt trầm trọng, cạo tóc sẽ giúp tiết kiệm nước cho sinh hoạt.
Sáng kiến ấy cùng quyết tâm của cả trung đội khiến cấp trên đồng ý cho họ ra đảo.
Những ngày đầu trên "mắt thần" Cồn Cỏ:
Tháng 7/1965, Trung đội 3 vượt khoảng 17 hải lý từ đất liền ra Cồn Cỏ.
Nhưng những gì chờ họ trên đảo khắc nghiệt hơn rất nhiều so với tưởng tượng.
Máy bay và tàu chiến Mỹ bao vây, đánh phá đảo liên tục. Có những thời điểm bom đạn khiến Cồn Cỏ gần như không còn cây cối. Mặt đất bị bom cày xới, nhưng những người lính vẫn phải vừa chiến đấu vừa đào công sự, hầm hào để bảo vệ mình và bảo vệ trận địa.
Kế hoạch ban đầu chỉ là hai tháng.
Nhưng chiến sự quá ác liệt nên trung đội của Lê Hữu Trạc không thể rời đảo theo kế hoạch. Họ tiếp tục ở lại.
Hai tháng thành nhiều tháng.
Nhiều tháng thành nhiều năm.
Cuối cùng, Lê Hữu Trạc cùng đồng đội đã bám trụ ở Cồn Cỏ gần 3 năm, gần 1.000 ngày đêm.
Thiếu thốn đến mức phải vắt nước chuối rừng
Không chỉ phải đối mặt với bom đạn, những người lính trên đảo còn phải chống chọi với sự thiếu thốn.
Mọi thứ từ lương thực, thuốc men, vũ khí, đạn dược… đều phải được đưa từ đất liền ra. Nhưng khi tàu Mỹ phong tỏa, việc tiếp tế có thể bị cắt đứt trong thời gian dài.
Có thời điểm suốt sáu tháng tàu tiếp tế của ta không thể ra đảo.
Nước ngọt trở thành thứ quý giá vô cùng. Khi không còn đủ nước để uống, bộ đội phải chặt chuối rừng rồi vắt nước để uống.
Nhưng những người lính không chỉ sống nhờ ý chí của bản thân.
Nhân dân Vĩnh Linh cũng góp sức tiếp tế cho đảo. Theo lời kể của ông Trạc, có khoảng 200 người đã hy sinh hoặc mất tích trên biển trong những chuyến tiếp tế cho Cồn Cỏ. Vì thế, mỗi chuyến hàng tới được đảo đều chứa đựng sự hy sinh của cả hậu phương.
Ông kể rằng có những bữa cơm mà người lính phải ăn trong nước mắt vì thương đồng đội và đồng bào đã hy sinh.
Chính những mất mát đó lại khiến họ quyết tâm chiến đấu mạnh mẽ hơn.
"Thà hy sinh chứ không để mất đảo"
Có những thời điểm tàu địch bao vây Cồn Cỏ, khiến việc tiếp tế gần như bị cắt đứt hoàn toàn.
Trong hoàn cảnh ấy, Lê Hữu Trạc luôn động viên đồng đội giữ vững đảo với tinh thần:
"Thà hy sinh chứ không để mất đảo."
Một trong những người có vai trò quan trọng trong việc tổ chức phòng thủ là Đại tá Trần Văn Thà, Đảo trưởng Cồn Cỏ giai đoạn 1965–1967.
Trước tình trạng máy bay Mỹ đánh phá dữ dội, ông Trần Văn Thà có sáng kiến đào địa đạo để bảo vệ lực lượng.
Những người lính trên đảo nhờ hệ thống công sự, địa đạo và trận địa mà có thể tiếp tục bám trụ giữa những đợt bom liên tục.
Những chiến công trên Cồn Cỏ:
Trong khoảng thời gian 1965–1968, quân và dân trên đảo Cồn Cỏ đã chiến đấu qua hàng trăm trận đánh.
Theo các nguồn tư liệu, trong ba năm này, lực lượng trên đảo đã bắn hạ 48 máy bay, trong đó 29 chiếc rơi tại chỗ; bắn cháy 17 tàu chiến và 2 thuyền của đối phương. Một nguồn Tiền Phong ghi nhận lực lượng trên đảo đã chiến đấu qua 841 trận.
Năm 1966, Lê Hữu Trạc và đồng đội trên đảo nhận được thư khen ngợi, động viên của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Cồn Cỏ sau đó được tuyên dương danh hiệu Anh hùng.
Nhưng khi kể lại những thành tích ấy nhiều năm sau, Lê Hữu Trạc không coi đó là chiến công của riêng mình.
Ông luôn nhắc đến đồng đội.
Đặc biệt, ông nhắc đến Đảo trưởng Trần Văn Thà và những người lính đã chiến đấu bên cạnh mình. Ông cho rằng danh hiệu Anh hùng mà mình nhận được được tạo nên từ máu của những người đồng đội đã hy sinh.
Những người đồng đội mà ông không bao giờ quên.
Trong ký ức của Lê Hữu Trạc có rất nhiều đồng đội.
Ông nhắc đến Thái Văn A, người dù bị thương vẫn không chịu rời chòi quan sát. Ông Thái Văn A đã tham gia hàng trăm trận chiến và góp phần bắn rơi 20 máy bay Mỹ.
Ông cũng nhắc đến Nguyễn Văn Mật, khẩu đội trưởng súng cao xạ 14,5 ly, đã tham gia hơn 100 trận đánh chống máy bay và tàu chiến Mỹ.
Cả Thái Văn A và Nguyễn Văn Mật đều được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND năm 1967.
Đối với Lê Hữu Trạc, những người đồng đội ấy mới chính là những người làm nên chiến công của Cồn Cỏ.
Rời Cồn Cỏ và trở lại đất liền:
Đầu năm 1968, Lê Hữu Trạc được điều động trở lại đất liền.
Ông được giao làm Đại đội trưởng Đại đội Lê Hồng Phong.
Sau gần ba năm sống và chiến đấu ở Cồn Cỏ, ông tiếp tục đưa tinh thần chiến đấu ấy về đất liền.
Nhiệm vụ mới của ông là ngăn chặn tuyến tiếp viện của quân Mỹ từ cảng Cửa Việt lên chiến trường Đường 9 – Khe Sanh.
Một trong những nhiệm vụ đầu tiên là đánh sập cầu Bến Ngự, cắt tuyến đường bộ mà đối phương sử dụng để vận chuyển và tiếp tế.
Khi tuyến đường bộ bị cắt, đối phương chuyển sang dùng đường sông.
Nhưng những tàu vận tải này được thiết kế để chống lại một số loại hỏa lực mà đơn vị ông đang có.
Lê Hữu Trạc tìm cách giải quyết vấn đề bằng cách đề xuất sử dụng lực lượng dân quân địa phương và DKZ để thử đánh tàu địch.
Kết quả cho thấy hỏa lực DKZ có thể tiêu diệt tàu.
Sau đó, lực lượng dân quân các xã được bố trí dọc bờ sông. Nhiều tàu tiếp tế của đối phương bị bắn cháy hoặc đánh chìm. Có thời điểm cả tuần không có tàu nào vượt qua được lưới lửa để tiếp tế cho chiến trường Đường 9 – Khe Sanh.
Tai nạn định mệnh năm 1968:
Sau những chiến đấu ấy, Lê Hữu Trạc được giao nhiệm vụ Tham mưu trưởng Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 270, Quân khu IV.
Tháng 8/1968, ông cùng đồng đội đi trinh sát địa hình ở phía Tây Vĩnh Linh để chuẩn bị phương án chống địch đổ bộ đường không.
Trong chuyến trinh sát, họ vướng phải một quả bom Mỹ chưa phát nổ.
Vụ nổ khiến người chiến sĩ liên lạc đi cùng ông hy sinh tại chỗ.
Còn Lê Hữu Trạc bị sức nổ hất tung, toàn thân bị thương nặng và hai mắt bị phá hủy hoàn toàn. Khi ấy ông mới khoảng 28 tuổi.
Từ một người lính trực tiếp chỉ huy ngoài chiến trường, ông phải rời tuyến đầu và được đưa về phía sau điều trị.
Chiến tranh đã lấy đi ánh sáng của đôi mắt ông.
Nhưng không lấy được ý chí của ông.
Cuộc sống sau khi mất đôi mắt:
Sau khi bị thương, Lê Hữu Trạc phải lắp mắt giả.
Ông từng buồn vì mới 28 tuổi mà đã vĩnh viễn không thể trở lại chiến trường để trực tiếp chỉ huy đồng đội.
Trong thời gian điều trị tại Trại an dưỡng Ba Vì, ông gặp Kim Thị Mão, một cô gái quê Hà Tây.
Cô cảm phục người thương binh trẻ tuổi và chấp nhận gắn bó với ông. Hai người kết hôn.
Năm 1972, bà Kim Thị Mão đưa ông trở về quê Xuân Ninh để sống cuộc đời bình dị.
Nhưng ông không coi mình là người vô dụng.
Ông tự nhắc mình phải sống theo tinh thần "thương binh tàn nhưng không phế".
Năm 2000, ông làm tờ trình gửi lãnh đạo tỉnh Quảng Bình để đề nghị thành lập Hội Người mù tỉnh Quảng Bình.
Sau khi Hội được thành lập, nhiều thương binh bị mù, con em thương binh – bệnh binh và những người khiếm thị có thêm cơ hội học nghề, việc làm và tự nuôi sống bản thân.
Danh hiệu Anh hùng:
Ngày 26/4/2018, Chủ tịch nước ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho Lê Hữu Trạc vì những thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Điều đáng nhớ là khi nhận danh hiệu, ông không nhận công lao về mình.
Ông cho rằng danh hiệu ấy thuộc về những người đồng đội đã cùng ông chiến đấu và những người đã hy sinh.
Vì vậy, câu chuyện của Lê Hữu Trạc không chỉ là câu chuyện về một người lính mất đi đôi mắt.
Đó còn là câu chuyện về gần 1.000 ngày đêm giữ Cồn Cỏ, về những người lính trẻ đã nằm lại trên đảo, về hậu phương Vĩnh Linh đã hy sinh để tiếp tế cho đảo, và về một người thương binh sau chiến tranh vẫn tiếp tục sống có ích cho cộng đồng.



