Lê Lai liều mình cứu chủ và biểu tượng bất tử của lòng trung thành
Trường Đại học Hải Dương
Lê Lai liều mình cứu chủ và biểu tượng bất tử của lòng trung thành
Trong trang sử vàng chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, hình ảnh Lê Lai cải trang làm Bình Định Vương Lê Lợi, xông ra cự chiến để thu hút hỏa lực đối phương và hy sinh thân mình đã trở thành một biểu tượng bất tử. Hành động dũng cảm phi thường ấy không chỉ cứu sống vị chủ tướng cốt cán của khởi nghĩa Lam Sơn trong thời khắc hiểm nghèo nhất mà còn bảo toàn ngọn cờ lãnh đạo, cứu vãn toàn bộ sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi nguy cơ bị dập tắt từ trong trứng nước.
Lê Lai người làng Dựng Tú, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa. Ông xuất thân trong một gia đình hào trưởng uy tín ở vùng núi rừng miền Tây Thanh Hóa, nối nghiệp cha ông gánh vác việc làng bản. Là người có tính cách thẳng thắn, dũng cảm, giàu lòng yêu nước và tinh thần nghĩa khí, Lê Lai từ sớm đã căm giận ách tàn bạo của chính quyền đô hộ nhà Minh. Khi Bình Định Vương Lê Lợi chiêu tập hiền tài ở Lam Sơn, Lê Lai đã cùng các anh em, con cháu trong dòng họ đem toàn bộ gia tài, lực lượng tìm về hội tụ.
Năm 1416, Lê Lai là một trong 18 người đồng chí thân thiết nhất tham gia Hội thề Lũng Nhai cùng Lê Lợi. Tại đây, ông đã cùng các tướng lĩnh kề vai sát cánh, thề nguyện đồng tâm hiệp lực, cùng sống chết để đánh đuổi quân xâm lược Minh, khôi phục lại độc lập cho giang sơn Đại Việt. Từ ngày khởi nghĩa Lam Sơn chính thức bùng nổ vào đầu năm 1418, Lê Lai luôn là vị tướng tiên phong, dũng mãnh xông xáo trong các trận đánh gian khổ ở vùng núi Thanh Hóa.
Thời kỳ đầu của cuộc khởi nghĩa vô cùng gian khó. Quân Minh huy động hàng vạn quân tinh nhuệ cùng lực lượng tay sai ráo riết vây quét nhằm bóp chết nghĩa quân Lam Sơn ngay tại vùng căn cứ. Năm 1418, quân địch mở trận càn quét quy mô lớn vào vùng núi Chí Linh (Thanh Hóa). Nghĩa quân bị bao vây chặt chẽ, rơi vào tình thế tuyệt lương, lực lượng tổn thất nặng nề. Vòng vây của giặc ngày càng siết chặt, quyết tâm truy bắt bằng được chủ tướng Lê Lợi.
Đứng trước nguy cơ sụp đổ của toàn bộ cuộc khởi nghĩa, Lê Lợi đã triệu tập các tướng lĩnh để tìm phương án phá vây. Trong cuộc họp khẩn cấp ấy, Lê Lợi đau đớn hỏi: "Ai có thể mặc áo bào của ta, đóng giả làm ta dẫn quân ra cự chiến để đánh lừa quân giặc, giúp bộ chỉ huy rút lui an toàn?". Giữa lúc các tướng sĩ còn đang bàng hoàng trước yêu cầu hy sinh quá lớn, Lê Lai đã bước ra vái chào và dũng cảm nhận lấy trọng trách. Ông nói: "Nếu giữ được mạng sống của Tướng công thì dân ta mới có ngày ngẩng đầu. Tôi nguyện hy sinh thân mình để thay Tướng công!".
Lê Lai lập tức khoác lên mình chiến áo bào đỏ của Bình Định Vương, cưỡi voi chiến, dẫn một đội quân tinh nhuệ dũng cảm xông thẳng vào vây hãm của quân Minh. Trên chiến trường, ông hô to: "Ta là Bình Định Vương đây!" nhằm thu hút toàn bộ hỏa lực và sự chú ý của quân giặc. Quân Minh tưởng rằng đã bao vây được chủ tướng Lam Sơn nên dồn toàn bộ lực lượng tập trung tấn công cánh quân của Lê Lai.
Trận càn quét diễn ra vô cùng ác liệt. Lê Lai cùng các binh sĩ đã chiến đấu ngoan cường, tiêu diệt nhiều kẻ thù cho đến khi cạn kiệt sức lực. Ông bị quân Minh bắt giữ và sát hại tàn bạo. Nhờ sự hy sinh vô bờ bến của Lê Lai, Lê Lợi cùng Bộ chỉ huy cốt cán đã nhân thời cơ địch bị thu hút để bí mật mở đường máu rút khỏi núi Chí Linh an toàn, tiếp tục nuôi dưỡng và phát triển lực lượng.
Sau khi cuộc kháng chiến hoàn toàn thắng lợi năm 1428, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế (Lê Thái Tổ) đã truy phong Lê Lai là Tả Tư đồ, phong làm Cung vương. Nhớ ơn người đồng chí đã xả thân cứu mình, Lê Thái Tổ đã dặn lại con cháu và triều đình: Sau này khi vua qua đời, phải làm lễ tế Lê Lai trước một ngày rồi mới làm lễ tế vua. Từ đó, trong dân gian lưu truyền câu ca bất hủ: "Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi" để ghi nhớ ngày mất của hai vị anh hùng.
Tấm gương liều mình cứu chủ của Lê Lai không chỉ là đỉnh cao của lòng trung thành và tinh thần hy sinh vì đại nghĩa, mà còn là một minh chứng cảm động về tình đồng chí, nghĩa đồng bào trong cuộc đấu tranh sinh tử để giành lại độc lập cho dân tộc Việt Nam.



