Lê Lai – Người anh hùng "Liều mình cứu chúa" trong những năm tháng gian khổ bậc nhất của khởi nghĩa Lam Sơn (mất năm 1416).
Một tấm gương trung nghĩa vĩ đại, biểu tượng sáng ngời của tinh thần xả thân cứu chúa và hy sinh cao cả vì nghĩa lớn trong lịch sử dân tộc – người đã dũng cảm mặc áo giáp của Lê Lợi để đánh lừa quân Minh chính là Lê Lai – Người anh hùng "Liều mình cứu chúa" trong những năm tháng gian khổ bậc nhất của khởi nghĩa Lam Sơn (mất năm 1416).
Xuất thân hào trưởng và nghĩa cử kết nghĩa sinh tử với Lê Lợi
Lê Lai sinh ra và lớn lên tại làng Dựng Tú (nay thuộc xã Lương Sơn, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa). Ông sinh ra trong một gia đình hào trưởng giàu lòng yêu nước, có uy tín lớn tại địa phương.
Khi Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa chống giặc Minh tại Lam Sơn vào năm 1418, giữa những năm tháng vô cùng khốc liệt, Lê Lai đã sớm đem toàn bộ gia tộc, lực lượng và tài sản ra hết lòng phò tá. Giữa Lê Lợi và Lê Lai có một tình cảm gắn bó sâu sắc, xem nhau như ruột thịt, cùng chung chí hướng đánh đuổi giặc ngoại xâm để cứu dân cứu nước.
Trận chiến sinh tử tại núi Chí Linh và quyết định "Liều mình cứu chúa" (1416)
Trong những năm đầu khởi nghĩa, lực lượng nghĩa quân Lam Sơn còn non trẻ, nhiều lần bị quân Minh dồn đuổi vào thế cùng lực kiệt. Một trong những sự kiện nguy cấp nhất xảy ra vào năm 1416 (có thuyết ghi năm 1418 hoặc 1419 theo diễn biến chiến dịch):
Nghĩa quân bị quân Minh của giặc Mã Kỳ bao vây chặt chẽ nhiều vòng tại núi Chí Linh (Thanh Hóa), lương thực cạn kiệt, tình thế ngàn cân treo sợi tóc, nguy cơ toàn bộ ban lãnh đạo nghĩa quân bị bắt sống hoặc tiêu diệt là rất cao.
Đứng trước hiểm cảnh đó, Lê Lai đã dũng cảm đứng lên thưa với Lê Lợi: "Tên giặc mưu tính diệt trừ chủ soái chúng ta. Nay xin cho tôi được mặc áo giáp của ngài, cưỡi ngựa chiến của ngài giả làm Bình Định Vương để thu hút toàn bộ quân giặc về phía mình, tạo cơ hội cho ngài thoát thân!".
Lê Lợi vô cùng xúc động, từ chối nhưng Lê Lai khảng khái đáp: "Chúa công mất thì cơ nghiệp tiêu vong, nước nhà chìm đắm. Tôi chết thay cho ngài, vừa bảo toàn được đại cục, vừa để lại tiếng thơm muôn đời!".
Nói đoạn, Lê Lai mặc áo vàng của Lê Lợi, cưỡi ngựa chiến lao thẳng ra khỏi vòng vây, dõng dạc khiêu chiến với quân giặc. Quân Minh tưởng đó chính là Bình Định Vương nên dồn toàn lực đuổi theo và bao vây ông. Nhờ hành động hy sinh dũng cảm đó của Lê Lai, Lê Lợi và phần lớn nghĩa quân đã thuận lợi rút lui an toàn vào rừng sâu bảo toàn lực lượng.
Lê Lai chiến đấu kiên cường đến hơi thở cuối cùng và hy sinh anh dũng trong vòng vây của quân thù. Giặc Minh sau khi phát hiện nhầm người vô cùng tức giận, nhưng hành động lẫm liệt của ông đã khiến kẻ thù cũng phải kính nể.
Tấm lòng tri ân của Lê Lợi và câu nói bất hủ "Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi"
Sau khi đại thắng quân Minh, nước nhà độc lập, Vua Lê Lợi (Lê Thái Tổ) cùng triều đình Hậu Lê không bao giờ quên ơn sinh thành, cứu mạng của Lê Lai:
Vua phong tặng Lê Lai là Khu mật Đại sứ, truy tôn tước vị cao quý và ban thưởng hậu hĩnh cho con cháu đời đời hưởng lộc.
Vua Lê Lợi ra lệnh cho các quan lại và toàn thể nhân dân đời đời ghi nhớ công ơn cứu chúa của ông bằng câu ca dao lịch sử được lưu truyền mãi đến muôn đời:
"Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi"
Hàng năm, cứ đến ngày 21 tháng Giêng âm lịch, triều đình và nhân dân lại tổ chức giỗ trận Lê Lai (Lễ hội miếu Lê Lai ở Thường Xuân, Thanh Hóa) trước một ngày so với ngày giỗ của vua Lê Lợi (ngày 22 tháng Giêng), thể hiện đạo lý "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây" và lòng tri ân sâu sắc đối với vị anh hùng xả thân cứu chúa.
Di sản ngàn thu
Lê Lai là hiện thân của lòng trung nghĩa tuyệt đối, ý chí hy sinh quên mình vì nghĩa lớn quốc gia. Tên tuổi của ông được tôn vinh ở khắp mọi miền đất nước qua các đền thờ trang nghiêm và những con đường mang tên Lê Lai, mãi mãi là biểu tượng thiêng liêng về tinh thần quả cảm trong lịch sử Việt Nam.


