Bài viết

Lê Quát

Thanh Hóa27/10/2026Xã Tân Khai (Đoàn xã Tân Khai)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Lê Quát (1319 - 1386?) tự là Bá Đạt, hiệu Mai Phong, biệt hiệu Lương Giang, là danh sĩ và là quan nhà Trần trong lịch sử Việt Nam.

Ông là người làng Phủ Lý, huyện Đông Sơn (nay thuộc Thanh Hóa). Chính sử chép rằng ông vốn xuất thân từ gia đình nghèo khó, thuộc dòng dõi Thái sư Lê Văn Thịnh, và cùng đồng môn Phạm Sư Mạnh là học trò giỏi của nhà giáo Chu Văn An.

Sau khi thi đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ), Lê Quát được cử giữ một số chức quan dưới triều vua Trần Minh Tông và thăng tiến đến chức Tả bộc xạ (tương đương tể tướng).

Sử cũ vẫn truyền tụng về sự uyên bác của ông. Trong khi Phật giáo đang là quốc giáo với hệ thống chùa chiền dày đặc, Lê Quát chính là người tiên phong cổ xúy cho Nho giáo, mong muốn xây dựng một xã hội có kỷ cương, tôn ti theo đạo trị quốc của thánh hiền.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi lại một đoạn tùy bút nổi tiếng của Lê Quát khi ông đi tuần thú vùng Thanh Hóa. Đây được xem là một trong những đoạn văn nói lên nỗi lòng sâu sắc nhất của ông:

"Ta đi khắp từ vùng sông biển đến tận hang cùng ngõ hẻm, hễ đâu có người ở là có chùa Phật. Dân cúng hết của cải cho nhà Phật, coi việc xây chùa là làm phúc. Còn nhà học của Thánh hiền thì hiu quạnh, chưa thấy nơi nào xây dựng trang nghiêm. Thế mới biết đạo Phật dễ cảm hóa lòng người, mà đạo ta (Nho giáo) lại khó khăn như vậy."

Nỗi trăn trở này không phải vì ông ghét bỏ đạo Phật, mà bởi ông lo lắng cho hệ thống giáo dục quốc gia. Ông muốn dân ta không chỉ biết cầu kinh niệm Phật, mà phải biết đến Lễ, Nghĩa, Liêm, Sỉ để xây dựng đất nước tự cường.

Trong lịch sử, Lê Quát và Phạm Sư Mạnh được coi là hai cột trụ của triều đình thời Trần Minh Tông và Trần Dụ Tông. Ông là người cương trực, không ngại va chạm với các thế lực thủ cựu để bảo vệ lẽ phải. Ông từng dẫn đầu đoàn sứ bộ sang nhà Nguyên, thể hiện bản lĩnh của một trí thức nước Việt, khiến phương Bắc phải nể trọng. Ông góp công lớn trong việc hoàn thiện quy chế thi cử, giúp triều đình tuyển chọn được nhiều nhân tài thực thụ thay vì chỉ dựa vào dòng dõi quý tộc.

Đương thời, Lê Quát có sáng tác thơ văn, nhưng nay chỉ còn 7 bài thơ trong Tinh tuyển chư gia luật thi và Toàn Việt thi lục. Ngoài ra tại chùa Thiệu Phúc (Bắc Giang) còn có bài bia ký của ông có tên là Bắc Giang Bái thôn Thiệu Phúc tự bi ký (Bài ký bia chùa Thiệu Phúc thôn Bái Bắc Giang). Tất cả đều bằng chữ Hán.

Trích ý kiến nhận định về Lê Quát của GS. Nguyễn Huệ Chi:

“Qua bảy bài thơ còn lại, có thể thấy ông là người phóng khoáng, không lấy việc làm quan làm một sự ràng buộc hành vi và tư tưởng...Đôi khi sau một đôi nét chấm phá đơn sơ mà sắc sảo về cảnh vật, nhà thơ hé cho ta thấy những nỗi cô đơn, sầu muộn đang làm xao xuyến lòng ông. Nó là cái buồn của cả một thế hệ sĩ phu cảm thấy triều đại nhà Trần đang không cưỡng lại được sự suy sụp.

Ở mặt khác, Lê Quát cũng là một nhà Nho hết lòng vì đạo, muốn ra sức đẩy lùi ảnh hưởng của Phật giáo để dành cho Nho giáo một vị trí trong đời sống tinh thần...Và bài bia ký ở chùa Thiệu Phúc mang tiếng là bài Phật ấy, thực chất chỉ là một lời tự thú về cái bất lực của một tín đồ nhà Nho trước cảnh hiu quạnh, tiêu điều của môn phái mình...

Nhưng nói chung, dù mỏi mệt chán nản, hay cố giữ tư thế tích cực của một mẫu người nhập cuộc; cảm hứng chung toát ra từ nghệ thuật thơ văn của Lê Quát vẫn là một cảm hứng trong sáng chứ không gò gẫm nặng nề. Lòng yêu đất nước đã giúp của nhà thơ tạo được một bút pháp tả cảnh sinh động: cảnh quyện lấy tình; và cái nét nhẹ nhõm, hài hòa trong thơ ông cũng là phong cách chung của văn học của cả thời đại”

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Lê Quát | Câu chuyện thời hoa lửa