LÊ QUÝ ĐÔN
Nhà văn hoá; Nhà bác học lớn Việt Nam thời Hậu Lê
Lê Quý Đôn, tên thuở nhỏ là Lê Danh Phương, sinh năm 1726 tại làng Duyên Hà, nay là xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng lâu đời.
Thuở nhỏ ông nổi tiếng thông minh, có trí nhớ phi thường, cả ba lần đi thi đều đỗ đầu. Năm 1752 ,ông thi đỗ Bảng nhãn; giữ chức Thị giảng Viện hàn lâm và Viện quốc sử.
Năm 1760, ông lãnh chức Phó sứ sang nhà Thanh. Với học vấn uyên bác và tài ứng đối của ông đã làm cho các triều thần nhà Thanh và sứ thần các nước kính trọng. Sau khi về nước, ông làm Đốc đồng Kinh Bắc, tham chính Hải Dương, tư nghiệp Quốc Tử Giám kiêm trông coi việc biên soạn Quốc sử và được thăng chức Bồi tụng ở Phủ chúa; Hiệp trấn Thuận Hoá, Nghệ An.
Ông mất năm 1784, được truy tặng hàm Thượng thư Bộ Công.
Lê Quý Đôn là người đọc rộng, biết nhiều. Ông để lại khoảng 40 tác phẩm, bao gồm nhiều lĩnh vực. Đáng chú ý nhất là các tác phẩm: "Thánh mô hiền phạm lục", "Quần thư khảo biên", " Dịch kinh phu thuyết"; về lịch sử: "Đại Việt thông sử", "Quốc sử tục biên"; về khảo cứu: "Phủ biên tạp lục", "Kiến văn tiểu lục", "Vân đài loại ngữ"; về sáng tác: "Bắc sứ thông lục", "Quế Đường thi tập"; về sưu tập: "Toàn Việt thi lục".


